Đề thi mới

Ngữ vănLớp 9TChia sẻ bởi Tran Minh Ngoc 0 lượt sử dụng đề

LỜI GIẢI CHI TIẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TRẢ LỜI

ĐỀ SỐ 1 – CUỘC CHIA LI MÀU ĐỎ (Nguyễn Mĩ, 9 – 1964)

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của bài thơ.

Đáp án: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Phương pháp trả lời:
- Bước 1: Đếm số chữ ở một số dòng liên tiếp: "Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ" (9 chữ), "Tươi như cánh nhạn lai hồng" (6 chữ), "Trưa một ngày sắp ngả sang đông" (8 chữ), "Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ" (7 chữ).
- Bước 2: Nhận xét: số chữ trong dòng không đều nhau, không có niêm luật cố định, cách ngắt nhịp tự nhiên theo mạch cảm xúc, vần thơ lỏng và không theo một khuôn mẫu nào.
- Bước 3: Kết luận: đó là thể thơ tự do (không phải thơ 5 chữ, 7 chữ hay lục bát).

Lưu ý: Học sinh hay nhầm với thơ "hiện đại" nói chung. Cần trả lời đúng tên thể thơ, không trả lời bằng nội dung hay cảm xúc. Chỉ ghi "thơ tự do" là đủ điểm; ghi sai thành "thơ bảy chữ", "thơ lục bát" là mất điểm.

Gợi ý chấm: Trả lời đúng "thơ tự do" – 0,5 điểm.

Câu 2 (0,5 điểm). Cụm từ "màu đỏ" được nhắc mấy lần trong khổ thơ cuối?

Đáp án: Trong khổ thơ cuối, cụm từ "màu đỏ" xuất hiện 4 lần, ở ba dòng:
- "Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy" (lần 1)
- "Cái màu đỏ như màu đỏ ấy" (lần 2, lần 3)
- "Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi" (lần 4)

Phương pháp trả lời:
- Bước 1: Xác định đúng ranh giới khổ thơ cuối (từ "Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy" đến "Như không hề có cuộc chia li…").
- Bước 2: Đọc chậm từng dòng, gạch chân cụm từ cần đếm; chú ý dòng thứ hai có tới hai lần xuất hiện.
- Bước 3: Vừa nêu con số vừa chỉ rõ vị trí để chứng minh cách đếm.

Lưu ý: Đây là câu hỏi nhận biết, phải trả lời bằng một con số chính xác. Nếu học sinh chỉ ghi "nhiều lần" hoặc "3 lần" do bỏ sót một lần ở dòng thứ hai thì không cho điểm. Nên viết kèm dẫn chứng để người chấm đối chiếu.

Gợi ý chấm: Nêu đúng 4 lần (kèm vị trí càng tốt) – 0,5 điểm.

Câu 3 (1,0 điểm). Những hình ảnh nào tác giả muốn xây dựng để gợi màu đỏ thị giác? Những hình ảnh nào không cảm nhận được bằng thị giác? Ý nghĩa của những hình ảnh đó?

Đáp án:
- Những hình ảnh gợi màu đỏ có thể cảm nhận bằng thị giác (nhìn thấy được): "bông hoa chuối đỏ tươi – Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người", "ánh lửa hồng trên bếp".
- Những hình ảnh không cảm nhận được bằng thị giác mà chỉ hình dung, tưởng tượng: "Một làng xa giữa đêm gió rét" – ngọn lửa hồng ấy nằm ở một làng xa, giữa đêm tối và giá rét, người viết không nhìn thấy mà đang nghĩ, đang tin, đang hình dung về nó; đó là hình ảnh của tâm tưởng, của niềm tin hơn là của con mắt.
- Ý nghĩa:
+ Màu đỏ không chỉ là một sắc màu vật chất, hữu hình mà còn là màu của tình yêu, của lí tưởng, của sự sống và niềm tin.
+ Màu đỏ ấy "theo đi" cùng người ra trận, lan tỏa khắp mọi miền Tổ quốc: nơi đỉnh dốc cao, nơi làng xa trong đêm gió rét. Nhờ vậy, chia li chỉ còn là khoảng cách không gian, không thể chia cắt được tình cảm và khát vọng.
+ Cách chuyển từ cái nhìn thấy sang cái chỉ cảm nhận bằng tâm tưởng cho thấy sức mạnh của tình yêu và lí tưởng lớn hơn mọi giới hạn của hoàn cảnh chiến tranh.

Phương pháp trả lời:
- Bước 1: Đọc kĩ ba yêu cầu nhỏ trong một câu hỏi (hình ảnh thị giác – hình ảnh phi thị giác – ý nghĩa), trả lời lần lượt, không bỏ sót ý nào.
- Bước 2: Trích đúng ngữ liệu, đặt trong dấu ngoặc kép; không diễn giải thay bằng hình ảnh khác.
- Bước 3: Từ hình ảnh cụ thể nâng lên ý nghĩa khái quát (màu đỏ = tình yêu, lí tưởng, sự sống; chia li không chia cắt được lòng người).

Lưu ý: Câu hỏi ba ý nên phải tách ý rõ ràng. Sai thường gặp: chỉ kể lại hình ảnh mà không nêu ý nghĩa, hoặc gộp "hoa chuối" và "ánh lửa" vào cùng một nhóm mà không phân biệt được cái nhìn thấy với cái tưởng tượng.

Gợi ý chấm: Nêu đúng hình ảnh thị giác – 0,25; nêu đúng hình ảnh không cảm nhận bằng thị giác – 0,25; lí giải được ý nghĩa – 0,5.

Câu 4 (1,0 điểm). Lí giải ý nghĩa thông điệp: "Như không hề có cuộc chia li".

Đáp án: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, cần bảo đảm các ý:
- "Cuộc chia li" ở đây là chia li của chiến tranh: người vợ tiễn chồng ra trận, khoảng cách không gian là có thật, nhưng đó chỉ là chia cách thân xác, không phải chia lìa tâm hồn.
- Màu đỏ – tình yêu, lí tưởng, sự sống – "theo đi" cùng người ra trận, có mặt ở đỉnh dốc, ở làng xa, ở mọi nơi người lính đi qua. Vì thế người ở lại vẫn luôn "có" người ra đi trong tâm tưởng.
- Niềm tin vào "ngày mai sẽ là ngày sum họp" khiến cuộc chia li hôm nay chỉ là tạm thời, không mang nghĩa mất mát vĩnh viễn.
- Câu thơ khẳng định sức mạnh của tình yêu và lí tưởng: khi con người sống vì điều lớn lao hơn bản thân, khoảng cách vật lí trở nên vô nghĩa; tình yêu đủ lớn thì không có chia li nào là thật.
- Đó cũng là tuyên ngôn lạc quan, tin tưởng của cả một thế hệ trong những năm chống Mĩ.

Phương pháp trả lời:
- Bước 1: Xác định đây là câu hỏi lí giải, đánh giá (thông hiểu – vận dụng), không phải câu kể lại.
- Bước 2: Bám vào mạch cảm xúc cuối bài: từ hình ảnh cụ thể (hoa chuối, ánh lửa) rút ra nghĩa biểu tượng (màu đỏ theo người đi).
- Bước 3: Diễn đạt thành 3 – 5 câu văn liền mạch, có lí lẽ, tránh liệt kê khô khan.

Lưu ý: Không được trả lời bằng cách chép lại câu thơ rồi nói "thể hiện tình yêu đẹp" chung chung. Cần chỉ ra được vì sao không có chia li: vì tình yêu và lí tưởng không bị khoảng cách chia cắt.

Gợi ý chấm: Lí giải được chia li chỉ là khoảng cách không gian – 0,25; gắn với hình ảnh màu đỏ "theo đi" – 0,25; nêu được niềm tin ngày sum họp – 0,25; khái quát thành thông điệp về tình yêu, lí tưởng – 0,25. Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ về tuyên ngôn tình yêu trong những năm kháng chiến chống Mĩ: "Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau…"

Phương pháp trả lời:
- Bước 1: Đọc kĩ yêu cầu – viết đoạn văn (không phải bài văn), khoảng 200 chữ, kiểu bài nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí rút ra từ câu thơ.
- Bước 2: Xác định vấn đề nghị luận: tuyên ngôn tình yêu của thế hệ trẻ thời chống Mĩ – biết đặt tình yêu riêng sau tình yêu Tổ quốc, biết "sống xa nhau" mà không hề chia lìa.
- Bước 3: Lập dàn ý đoạn: câu mở đoạn (dẫn câu thơ, nêu vấn đề) – các câu thân đoạn (giải thích "sống xa nhau"; bàn luận vì sao đó là tuyên ngôn đẹp; dẫn chứng; mở rộng, phê phán lối sống ích kỉ) – câu kết đoạn (bài học cho tuổi trẻ hôm nay).
- Bước 4: Viết thành đoạn văn liền mạch, mỗi ý một vài câu, dùng thao tác giải thích, phân tích, bình luận, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng; kiểm tra lại dung lượng.

Đoạn văn tham khảo (khoảng 200 chữ):

"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau…" – câu thơ của Nguyễn Mĩ nghe như một lời nhắn nhủ mà cũng là một tuyên ngôn về tình yêu trong những năm chống Mĩ. "Sống xa nhau" là chấp nhận chia cách, đặt hạnh phúc riêng nhỏ bé sau vận mệnh lớn lao của dân tộc. Nhưng "biết sống xa nhau" không có nghĩa là mất nhau: khoảng cách địa lí không đo được sự gắn bó của hai tâm hồn đồng điệu. Người ra trận mang theo màu đỏ của tình yêu và lí tưởng; người ở lại giữ vườn hoa, giữ niềm tin vào ngày sum họp. Thời ấy, biết bao cặp vợ chồng trẻ chia tay trong nắng sớm, bao người lính gửi lại sau lưng cả tuổi thanh xuân để lên đường. Tình yêu của họ không chật hẹp trong cái riêng mà hòa vào vận mệnh chung, trở thành động lực chiến đấu và giữ gìn hậu phương. Câu thơ vì thế vừa ngậm ngùi vừa kiêu hãnh. Hôm nay, giữa đất nước hòa bình, bài học ấy vẫn nguyên giá trị: tuổi trẻ cần biết yêu đúng cách, biết đặt cái riêng trong cái chung, biết hi sinh cho những điều lớn lao. Một tình yêu đủ lớn để "sống xa nhau" chính là tình yêu không bao giờ thực sự chia lìa.

Lưu ý:
- Phải viết đúng hình thức một đoạn văn (không xuống dòng chia đoạn), dung lượng khoảng 200 chữ; dài quá hoặc ngắn quá đều bị trừ điểm.
- Không kể lể, không sa vào phân tích toàn bài thơ; chỉ dùng câu thơ làm điểm xuất phát cho suy nghĩ.
- Cần có dẫn chứng thực tế (có thể lấy từ văn học, lịch sử, đời sống) để đoạn văn không chung chung.
- Tránh lối diễn đạt sáo rỗng, tránh lặp lại nguyên câu thơ nhiều lần.

Gợi ý chấm (2,0 điểm):
- Đúng hình thức đoạn văn, đủ khoảng 200 chữ: 0,25
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25
- Giải thích được "sống xa nhau" và vì sao đó là tuyên ngôn tình yêu đẹp: 0,5
- Có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục, bàn luận sâu: 0,5
- Chính tả, ngữ pháp, diễn đạt trong sáng: 0,25
- Sáng tạo, có suy nghĩ riêng, liên hệ tuổi trẻ hôm nay: 0,25

(Ghi chú: Đề bài trong ngữ liệu dừng ở LÀM VĂN Câu 1 – 2,0 điểm; phần LÀM VĂN Câu 2 (5,0 điểm) chưa có trong đề nên chưa có đáp án tương ứng.)

Xem tất cả