Đề thi giữa học kỳ I môn Ngữ văn 11 - THPT Nguyễn Thiện Thuật

Ngữ vănLớp 11TChia sẻ bởi Thoa Bùi 0 lượt sử dụng đề

TRƯỜNG THPT NGUYỄN THIỆN THUẬT

TỔ XÃ HỘI

Đề chính thức

(Đề thi có 02 trang)

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I

NĂM HỌC 2025 – 2026

Môn: Ngữ văn – Lớp 11

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Hắn tưởng hắn chỉ nhọc thôi. Nhưng đi qua một tiệm ăn, nghe tiếng mỡ reo trong chảo và ngửi mùi xào nấu đưa ra, hắn mới biết rằng hắn lại đói nữa. Chính vì đói cho nên mới nhọc đến thế, mà đói cũng phải; tối hôm qua nhịn; sáng nay, chỉ ăn có mỗi một dánh khoai lang bằng ngón chân cái rồi đi ngay; chưa cơm nước gì... "Làm một bát phở chăng?" bụng hắn nghĩ thế, nhưng chân hắn cứ đi. Đi quá tiệm ăn mấy bước, hắn nuốt nước dãi kêu đánh ực. Hắn cố xua hình ảnh một bát phở bốc khói ra khỏi trí. Bởi vì phở thì ngon thật. Nhưng mà đắt. Mà lại lõng bõng nhiều nước quá. Tiếng rằng một bát, nhưng nếu chỉ kể nguyên bánh và thịt, khó mà được năm miếng thỏa. Đúng hai hào một bát. Biết ăn mấy bát? Nhiều: không đào đâu ra tiền được; ít, dở miệng, càng thêm khổ; mà lát nữa ra đến ngoài kia, tiểu tiện đánh tòe một cái, lại đâu vào đấy: bụng đói hoàn đói... Thà làm mấy hào cơm cho chắc dạ...

Hắn vừa đi vừa suy tính thế, mặt cúi gằm xuống đất, gần như chẳng nhìn thấy gì, bởi cái lối đi đã thuộc quá, có nhắm mắt mà đi cũng không sợ lạc. Đến hàng cơm mọi khi, hắn cứ thế rẽ vào, rồi mới ngẩng mặt lên. Vừa ngẩng mặt lên, hắn tức thì tưng hửng. Đôi lông mày sâu róm của hắn nhấc cao đến lưng chừng trán. Đôi mắt hắn ranh to. Mũi hắn hếch lên như mũi một con dê con nghe dê mẹ gọi: hắn có vẻ vừa bỡ ngỡ, vừa cáu kỉnh. Bởi vì vừa rồi khi mới gần tới đây, hắn đã dọn mồm sẵn để ăn cơm. Thế mà người ta lại không còn bán cơm ở nơi này nữa. Hắn nhìn căn nhà hai tầng quét vôi vàng, bên phải. Hắn nhìn căn nhà hai tầng có cái gác như một cái chuồng chim, bên trái. Hắn nhìn cây bàng to trước cửa... Đúng là cái nhà này, không sai được. Nhưng cái chõng hàng cơm, với những cái chậu sành đựng đồ ăn, với đàn ruồi nhặng mọi khi, thì không còn thấy. Cửa lùa ở hai bên thì thấy đóng, chỉ thấy để một lối ra vào ở giữa mà thôi. Trước cửa, treo một bức mành mành, như kiểu những nhà để ở, không buôn bán.

Cái hàng cơm đã dọn đi nơi khác hoặc không bán nữa, có thế thôi. Thật giản dị như một bài tính đố trẻ con. Nhưng hắn bực mình nên cứ băn khoăn hỏi mãi: "Thế thì cái cóc gì? Thế là cái cóc gì?". Hắn lẩm bẩm thành lời, rồi hắn lại toan xộc vào nhà, để hỏi người trong nhà nữa. Làm in như một người đi đòi nợ thấy con nợ của mình chuồn mất. Nhưng mới bước vào khỏi bức mành mành, hắn chợt trông thấy cái bảng treo ngang. Ấy là một cái biển nhỏ, màu đỏ thẫm, chữ đen, như cố giấu mình đi. Hắn phải dụi mắt mấy lượt cho khỏi quáng mắt, mới đọc nổi ba dòng chữ viết khắc chìm xuống gỗ: "Thầy bói Cư, trước ở Hà Nội nay dọn về đây; tiền vận, hậu vận nói mười lời không sai một". A! Thầy bói. Cái giống này không làm cho no bụng. Hắn lui ra, nhưng cũng chưa đi vội. Có lẽ cũng chỉ vì hắn nhọc, mà trời thì nóng; hắn không biết có một hàng cơm nào gần đấy cả. Hắn nhăn nhó, đứng tần ngần một lát. Đi đâu mà ăn bây giờ? Mấy dòng chữ trên cái biển của anh thầy bói lại lần lượt hiện trong óc hắn. Hắn tặc lưỡi, và tự bảo: "Mẹ nó! Hay là mình hỏi xem có rẻ xem một quẻ". Tuy thế, hắn vẫn còn do dự. Bởi vì cái sự rẻ chắc là ít có. Tay này đã ở trên Hà Nội, tất phải khá lắm, (đối với hắn, cái gì ở Hà Nội cũng là khá; cái không khá, sao nó góp mặt được với dân Hà Nội?). Vậy thì lão thầy bói Hà Nội này chắc phải xem giỏi lắm. Xem giỏi thì lấy đắt. Chắc lão phải lấy từ một đồng trở lên. Hắn làm gì có tiền mà xem?... Bởi nghĩ thế nên hắn đã chực vào rồi lại không vào nữa. Nhưng hắn cũng không đi đứt. Bởi từ lúc nghĩ rằng: Hắn không đủ tiền để mà xem, tự nhiên hắn muốn xem bói quá. Giá độ năm hào mà cũng xem được thì thích thật. Hắn quyết nhịn đói để xem một quẻ. Để xem người ta nói ra thế nào? Tại sao mà hắn cứ long đong mãi thế? Bao giờ thì đúng số? Liệu đời hắn có còn bao giờ mở mày, mở mặt ra được nữa hay cứ thế này mãi mãi?... Lòng hắn tự nhiên sầm tối lại. Hắn nghĩ đến những nỗi khổ của hắn từ ngày ốm một trận, nghỉ lâu quá, mất việc để bây giờ thất nghiệp... Những đồ đạc bán đi... Những ngày ăn cháo loãng cám bổi... Những buổi tối vợ chồng cắn rứt nhau... Những lần vác đơn đi khúm núm xin việc hết sở này sang sở khác... Ngay lúc này, hắn cũng vừa xin việc tại một hãng chế tạo đồ dùng nọ. Ông chủ hãng cầm lấy tờ đơn của hắn, xem qua một chút rồi lại trả ngay, lắc đầu, đuổi hắn ra. Hắn rơm rớm nước mắt, năn nỉ như một thằng ăn mày xin một đồng xu: "Bẩm ông, ông rủ lòng thương đến con! Ông thuê hàng trăm người, nữa có vào đâu? Ông cho con mỗi tháng bao nhiêu cũng được. Con thất nghiệp quá một năm rồi. Nhà nghèo lắm. Ông không thương con thì con chết đói mất...". Chẳng biết ông chủ có để ý nghe những lời hắn nói hay không. Ông cúi mặt, trông xuống quyển sổ lớn tướng mở trên bàn. Bỗng ông ngẩng phắt mặt lên, trợn mắt nhìn hắn, và sừng sộ:

- Anh không ra còn đứng làm gì đấy?

- Lạy ông, ông không thương thì con chết đói... Con thất...

Hắn toan đọc lại những lời vừa mới nói. Nhưng ông không muốn nghe gì hơn nữa. Ông đẩy hắn ra phía cửa:

- Ra đi! Con khỉ!... Ai rỗi hơi đâu mà bạ thằng thất nghiệp nào đến cũng nuôi? Đủ người rồi. Ra đi!

Ngay lúc ấy, hắn nghẹn ngào trong cổ. Nhưng chỉ một lúc sau hắn đã bật cười. Bởi nghĩ cho kỹ thì ông nói phải: Ông bỏ ra bao nhiêu tiền lập cái hãng của ông, là có ý kiếm lợi chứ có phải mở một nhà tế bần đâu, mà bắt ông phải chứa tất cả những đồ chết đói? Bây giờ nhớ lại, hắn cũng còn nhếch mép cười một chút. Nhưng cười thì cười, hắn cũng không vì thế mà vui vẻ lại. Có điều ý nghĩ của hắn lại quay về lão thầy bói. Hắn tin chắc rằng: Lão thầy bói này hay lắm. Lão sẽ rọi một tia sáng vào cõi tương lai mù mịt của hắn. Lão sẽ bảo cho hắn biết đời hắn mai sau như thế nào?...

"Thì mình cứ vào hỏi xem!...". Như sợ đổi ý, hắn chưa nghĩ hết câu đã bước vào lập tức. Mặt hắn hơi tái đi một chút. Tim hắn đập.

[...]

(Trích Xem bói – Nam Cao, in trong Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, 2024)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Trong văn bản, tình cảnh đói khát, túng thiếu của nhân vật "hắn" được thể hiện qua những chi tiết nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: "Hắn rơm rớm nước mắt, năn nỉ như một thằng ăn mày xin một đồng xu..."

Câu 4 (1,0 điểm). Nêu vai trò của chi tiết: "Hắn quyết nhịn đói để xem một quẻ. Để xem người ta nói ra thế nào? Tại sao mà hắn cứ long đong mãi thế? Bao giờ thì đúng số? Liệu đời hắn có còn bao giờ mở mày, mở mặt ra được nữa hay cứ thế này mãi mãi?..." trong việc thể hiện tâm trạng nhân vật và chủ đề văn bản.

Câu 5 (1,0 điểm). Qua văn bản, tác giả Nam Cao thể hiện thái độ, tình cảm như thế nào đối với cuộc sống và con người lao động nghèo?

Câu 6 (2,0 điểm). Từ nội dung văn bản trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của niềm hy vọng đối với con người khi rơi vào nghịch cảnh cuộc sống.

PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nghệ thuật tự sự của nhà văn Nam Cao được thể hiện trong văn bản phần Đọc hiểu.

--------- HẾT ---------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh: .............................................................. Số báo danh: ........................

TRƯỜNG THPT NGUYỄN THIỆN THUẬT

TỔ XÃ HỘI

Hướng dẫn chấm chính thức

(Hướng dẫn chấm gồm 04 trang)

HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2025 – 2026

Môn: Ngữ văn – Lớp 11

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

A. HƯỚNG DẪN CHUNG

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh lối chấm đếm ý cho điểm một cách máy móc.
- Chủ động, linh hoạt vận dụng tiêu chuẩn chấm; khuyến khích những bài viết có tính sáng tạo, cảm xúc chân thành, lập luận chặt chẽ và diễn đạt trong sáng.
- Điểm toàn bài là tổng điểm của các câu thành phần, tính theo thang điểm 10,0, làm tròn đến 0,25 điểm.

B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

6,0

1

Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình).
Hướng dẫn chấm:
- Nêu đúng ngôi thứ ba: 0,5 điểm.
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

0,5

2

Tình cảnh đói khát, túng thiếu của nhân vật "hắn" thể hiện qua các chi tiết:
- Tối hôm qua nhịn; sáng nay chỉ ăn có mỗi một dánh khoai lang bằng ngón chân cái rồi đi ngay; chưa cơm nước gì.
- Đi qua tiệm ăn, nghe tiếng mỡ reo và ngửi mùi xào nấu mới biết mình đói; thèm ăn bát phở hai hào nhưng không có tiền, nuốt nước dãi kêu đánh ực rồi phải xua đi; tính ăn mấy hào cơm cho chắc dạ.
Hướng dẫn chấm:
- Nêu được từ 2 chi tiết trở lên như trên: 0,5 điểm.
- Nêu được 1 chi tiết: 0,25 điểm.
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

0,5

3

- Biện pháp tu từ: So sánh (hành động, thái độ năn nỉ xin việc của hắn được so sánh "như một thằng ăn mày xin một đồng xu").
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm, làm cho câu văn sinh động, chân thực.
+ Khắc họa tột cùng nỗi đau đớn, sự hèn mọn, cùng quẫn và tủi nhục của người lao động thất nghiệp bị dồn đẩy đến bước đường cùng.
+ Bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc, xót xa của nhà văn trước phẩm chất con người bị chà đạp bởi cái đói, cái nghèo.
Hướng dẫn chấm:
- Chỉ ra đúng biện pháp so sánh: 0,25 điểm.
- Nêu tác dụng đầy đủ (đảm bảo 2 ý trở lên): 0,75 điểm (nêu được 1 ý cho 0,5 điểm).
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

1,0

4

Vai trò của chi tiết đối với việc thể hiện tâm trạng nhân vật và nội dung văn bản:
- Bộc lộ tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng tột cùng nhưng vẫn đau đáu khát khao đổi đời, mong muốn thoát khỏi cảnh nghèo khó, cơ cực.
- Thể hiện tâm lý bi kịch của người nghèo: khi hiện thực bị chặn đứng mọi nẻo đường mưu sinh, họ buộc phải bấu víu vào vận may rủi, thế giới tâm linh viển vông để tìm kiếm một tia hy vọng.
- Góp phần làm nổi bật số phận bi kịch của con người và làm sâu sắc thêm giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời đầy đủ, thuyết phục như định hướng: 1,0 điểm.
- Trả lời được 1 - 2 ý: 0,5 điểm.
- Trả lời sơ sài hoặc sai lệch: 0,0 - 0,25 điểm.

1,0

5

Thái độ, tình cảm của tác giả Nam Cao đối với cuộc sống và con người lao động nghèo:
- Đồng cảm, thương xót sâu sắc trước nỗi khổ đau dai dẳng về vật chất (đói khát, bệnh tật, thất nghiệp) và nỗi nhục nhã ê chề về tinh thần của người lao động.
- Trân trọng niềm khát khao sống, ước mơ "mở mày mở mặt" rất đỗi chính đáng, nhân bản của con người nghèo khổ.
- Kín đáo phê phán thực tại xã hội bất công, lạnh lùng dồn đẩy con người vào ngõ cụt tăm tối.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời đầy đủ, sâu sắc: 1,0 điểm.
- Trả lời được 1 - 2 ý: 0,5 điểm.
- Trả lời chung chung: 0,25 điểm.

1,0

6

Viết đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của niềm hy vọng đối với con người khi rơi vào nghịch cảnh cuộc sống:

2,0

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: Thí sinh có thể chọn các thao tác diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp... dung lượng khoảng 8 – 10 dòng.

0,5

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của niềm hy vọng đối với con người khi đối diện với nghịch cảnh cuộc sống.

0,5

c. Triển khai nội dung: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, vận dụng lí lẽ và dẫn chứng hợp lý; có thể tham khảo một số gợi ý sau:
- Niềm hy vọng là điểm tựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm động lực và sức mạnh để con người không gục ngã trước bão giông, đói khổ.
- Hy vọng mở ra niềm tin vào tương lai tươi sáng, thôi thúc con người nỗ lực tìm kiếm giải pháp và vượt qua khó khăn thử thách.
- Cần phân biệt niềm hy vọng tích cực (gắn với hành động thực tế) với những ảo tưởng viển vông, mê muội.
- Liên hệ bản thân: Luôn nuôi dưỡng niềm tin và tinh thần lạc quan trong học tập, cuộc sống.
Hướng dẫn chấm:
- Lập luận chặt chẽ, sâu sắc, thuyết phục: 1,0 điểm.
- Trình bày được 2 - 3 ý: 0,5 - 0,75 điểm.
- Trình bày được 1 ý: 0,25 điểm.
Lưu ý: Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.

1,0

II

VIẾT

Phân tích nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong văn bản phần Đọc hiểu

4,0

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

0,5

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo hình thức, dung lượng:
- Vấn đề nghị luận: Nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong văn bản Đọc hiểu (ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, miêu tả tâm lý, giọng điệu...).
- Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
Hướng dẫn chấm:
- Xác định đúng vấn đề, đảm bảo dung lượng: 0,5 điểm.
- Xác định chưa sát hoặc dung lượng quá ngắn/dài: 0,25 điểm.
- Lạc đề hoàn toàn: 0,0 điểm.

0,5

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, vận dụng tốt lí lẽ và dẫn chứng; cơ bản đáp ứng các yêu cầu sau:

2,0

* Giới thiệu tác giả Nam Cao, tác phẩm "Xem bói" và vấn đề nghị luận.
* Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật linh hoạt:
- Sử dụng ngôi kể thứ ba khách quan kết hợp thâm nhập sâu vào ý thức nhân vật.
- Điểm nhìn trần thuật luân chuyển nhịp nhàng giữa bên ngoài (dáng vẻ mệt mỏi, bước chân thất thểu) và bên trong (dòng độc thoại nội tâm về tiền nong, cái đói và nỗi khát khao xem bói). Điểm nhìn nửa trực tiếp giúp xóa nhòa ranh giới giữa người trần thuật và nhân vật.

0,75

* Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo, tinh tế:
- Nắm bắt chân thực những biến thái tâm lý phức tạp: từ cảm giác đói khát sinh lý đến nỗi khổ tâm vì nghèo đói; từ hụt hẫng khi quán cơm đóng cửa chuyển sang niềm tò mò, hy vọng đổi đời qua quẻ bói.
- Diễn tả sâu sắc thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn: nỗi nhục nhã của kẻ đi xin việc bị xua đuổi đối nghịch với khát vọng bấu víu vào vận mệnh tương lai.

0,75

* Giọng điệu trần thuật đa thanh và ngôn ngữ đặc sắc:
- Sự đan cài giữa giọng lạnh lùng, dửng dưng bề ngoài với niềm thương cảm, đau xót bên trong; xen lẫn chất mỉa mai, chua chát mang phong cách Nam Cao.
- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi đời thường nhưng giàu sức gợi và tính khái quát cao.
* Đánh giá, tổng kết: Khẳng định tài năng tự sự bậc thầy của Nam Cao.

0,5

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
- Không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp: 0,5 điểm.
- Mắc không quá 5 lỗi: 0,25 điểm.
- Mắc quá nhiều lỗi: 0,0 điểm.

0,5

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, văn phong giàu hình ảnh và sức truyền cảm.
Hướng dẫn chấm:
- Đáp ứng tốt cả 2 yêu cầu: 0,5 điểm.
- Đáp ứng 1 yêu cầu: 0,25 điểm.

0,5

TỔNG ĐIỂM

10,0

Chỉ cho điểm tối đa khi bài viết đảm bảo cả yêu cầu về nội dung và hình thức.

Xem tất cả