Đề thi cuối học kỳ I Ngữ văn 12 – Năm học 2026–2027

Ngữ vănLớp 12MChia sẻ bởi Minh Khoi Nguyen 2 lượt sử dụng đề

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINH

TRƯỜNG THPT NGÃ SẠ 1

ĐỀ THI CHÍNH THỨC

ĐỀ THI KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I

NĂM HỌC: 2026 – 2027

MÔN THI: NGỮ VĂN – LỚP 12

Ngày thi: 22/12/2026

Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

(1) Chưa bao giờ con người nói nhiều như bây giờ. Mỗi sáng thức dậy, việc đầu tiên của không ít người không phải là mở cửa sổ đón nắng mà là mở điện thoại. Tin nhắn, bình luận, những đoạn video nối nhau tự động phát, những lời chúc sinh nhật gửi đi chỉ bằng một cú chạm – tất cả ùa đến không ngớt. Ta có thể trò chuyện với hàng trăm người trong một ngày, vậy mà khi đêm xuống, nhiều người vẫn ngồi lặng trước màn hình và tự hỏi: có ai thật sự nghe mình không?

(2) Thật nghịch lí: giữa một biển lời nói, điều con người khao khát lại giản dị đến lạ lùng – được lắng nghe. Chúng ta có đủ phương tiện để kết nối với bất kì ai, ở bất kì đâu, nhưng lại thiếu thứ mà không thiết bị nào cung cấp được: sự chú tâm. Ta nghe để chờ đến lượt mình nói. Ta nghe bằng một bên tai, còn mắt thì dán vào màn hình. Ta gật đầu, nhưng tâm trí đã ở một nơi rất xa.

(3) Lắng nghe không phải là im lặng chờ người khác nói xong. Lắng nghe là tạm đặt cái tôi của mình xuống, gác lại những phán xét vội vàng, để lời người kia được đi trọn con đường của nó. Có những nỗi buồn không cần lời khuyên, chỉ cần một người ngồi đó, không vội vã, không ngắt lời, không liếc nhìn đồng hồ. Có những người trẻ lặng lẽ thu mình lại, không phải vì họ chẳng có gì để nói, mà vì đã lâu lắm rồi không ai hỏi họ một câu rồi kiên nhẫn đợi câu trả lời.

(4) Người ta thường nghĩ cô đơn là khi không có ai bên cạnh. Nhưng có một thứ cô đơn khác, khó nhận ra hơn: cô đơn giữa đám đông, cô đơn trong những nhóm trò chuyện lúc nào cũng sáng đèn. Đó là thứ cô đơn khoác lên mình tấm áo của sự kết nối. Song, đừng vội đổ hết lỗi cho chiếc điện thoại. Màn hình chỉ phóng to một thói quen vốn đã có từ lâu trong mỗi chúng ta: muốn người khác nghe mình hơn là chịu nghe người khác.

(5) Xét cho cùng, lắng nghe là một cách cho đi. Khi thật lòng lắng nghe, ta trao cho người khác điều quý giá mà mình có: thời gian và sự hiện diện trọn vẹn. Một xã hội biết lắng nghe chưa chắc đã bớt ồn ào, nhưng chắc chắn sẽ bớt đi những con người cô đơn.

(Ngữ liệu tự biên soạn)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Theo người viết, lắng nghe thực sự khác với việc im lặng chờ người khác nói xong ở những biểu hiện nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong những câu văn sau ở đoạn (2):
Ta nghe để chờ đến lượt mình nói. Ta nghe bằng một bên tai, còn mắt thì dán vào màn hình. Ta gật đầu, nhưng tâm trí đã ở một nơi rất xa.

Câu 4 (1,0 điểm). Anh/chị hiểu như thế nào về câu văn kết thúc văn bản: Một xã hội biết lắng nghe chưa chắc đã bớt ồn ào, nhưng chắc chắn sẽ bớt đi những con người cô đơn. Thông điệp ấy có ý nghĩa gì đối với người trẻ hôm nay?

Câu 5 (1,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Công nghệ là nguyên nhân chính khiến con người hôm nay ngày càng cô đơn. Đối chiếu với quan điểm của người viết ở đoạn (4), anh/chị có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy lí giải bằng lập luận của riêng mình.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Lắng nghe là một cách cho đi.

Câu 2 (4,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, giá trị của người trẻ không còn nằm ở việc biết nhiều câu trả lời, mà ở năng lực đặt ra những câu hỏi đúng.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên. Trong bài viết, anh/chị cần có sự nhìn nhận đa chiều về mối quan hệ giữa biết nhiều câu trả lời và đặt ra câu hỏi đúng.

--------- HẾT ---------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh: ................................................ Số báo danh: ........................

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINH

TRƯỜNG THPT NGÃ SẠ 1

Hướng dẫn chấm CHÍNH THỨC

ĐỀ THI KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I

NĂM HỌC: 2026 – 2027

MÔN THI: NGỮ VĂN – LỚP 12

Ngày thi: 22/12/2026

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

A. HƯỚNG DẪN CHUNG

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.
- Trân trọng những bài viết có cảm xúc, có suy nghĩ riêng, có lập luận chặt chẽ và sáng tạo; chấp nhận cách trả lời khác nếu hợp lí, có căn cứ.
- Điểm lẻ của từng câu chia đến 0,25. Tổng điểm toàn bài là 10,0 điểm, không làm tròn.

B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

1

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

0,5

2

Những biểu hiện của lắng nghe thực sự:
- Tạm đặt cái tôi của mình xuống, gác lại những phán xét vội vàng, để lời người kia được đi trọn con đường của nó.

0,25

- Kiên nhẫn, chú tâm: không vội vã, không ngắt lời, không liếc nhìn đồng hồ (ngồi đó với người khác, hỏi rồi kiên nhẫn đợi câu trả lời).

0,25

3

- Biện pháp tu từ: điệp cấu trúc (điệp ngữ "Ta nghe…", "Ta…"), kết hợp liệt kê và đối lập ("gật đầu" – "tâm trí đã ở một nơi rất xa").

0,25

- Hiệu quả về nội dung: liệt kê nhiều biểu hiện của việc nghe hời hợt, thiếu chú tâm; làm nổi bật nghịch lí nghe mà không thật sự lắng nghe; đại từ "ta" bao hàm cả người viết, khiến lời văn mang tính tự soi xét, gần gũi với người đọc.

0,5

- Hiệu quả về nghệ thuật: tạo nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh vấn đề, tăng sức thuyết phục cho lập luận.
Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.

0,25

4

Gợi ý:
- Hiểu câu văn: lắng nghe không làm cho lời nói, thông tin trong xã hội ít đi ("chưa chắc đã bớt ồn ào"), nhưng giúp mỗi người được thấu hiểu, được hiện diện trong lòng người khác, nhờ đó chữa lành sự cô đơn ("chắc chắn sẽ bớt đi những con người cô đơn"). Giá trị của lắng nghe nằm ở chiều sâu của kết nối chứ không ở bề mặt giao tiếp.

0,5

- Ý nghĩa đối với người trẻ: nhắc người trẻ biết chú tâm, trân trọng người đối diện giữa đời sống số nhiều kết nối ảo; biết lắng nghe để thấu hiểu, xây dựng các mối quan hệ chân thành, góp phần làm xã hội nhân văn hơn.
Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.

0,5

5

- Xác định quan điểm của người viết ở đoạn (4): không đổ hết lỗi cho điện thoại; công nghệ chỉ "phóng to" thói quen vốn có là muốn người khác nghe mình hơn là chịu nghe người khác.

0,25

- Nêu rõ quan điểm cá nhân: đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần.

0,25

- Lí giải thuyết phục.
Gợi ý (hướng không đồng tình hoàn toàn): công nghệ là chất xúc tác, khiến giao tiếp dễ trở nên hời hợt; nguyên nhân sâu xa nằm ở con người: thói quen đề cao cái tôi, thiếu kiên nhẫn, thiếu chú tâm; cùng một phương tiện công nghệ vẫn có thể giúp con người gắn bó hơn nếu biết sử dụng đúng cách.
Thí sinh đồng tình vẫn được điểm nếu lập luận chặt chẽ, có căn cứ. Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.

0,5

II

VIẾT

6,0

1

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: Lắng nghe là một cách cho đi.

2,0

a. Bảo đảm yêu cầu về hình thức đoạn văn
Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Ý nghĩa của sự lắng nghe như một cách cho đi.

0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau:

* Giải thích
- Lắng nghe: chú tâm tiếp nhận, thấu hiểu lời nói và cảm xúc của người khác.
- "Một cách cho đi": lắng nghe là trao tặng người khác thời gian, sự quan tâm và sự hiện diện trọn vẹn.

0,25

* Bàn luận
- Lắng nghe đem lại cho người khác cảm giác được tôn trọng, được thấu hiểu, xoa dịu nỗi buồn và sự cô đơn.
- Cho đi bằng lắng nghe cũng là nhận lại: người nghe hiểu người, hiểu mình hơn, xây dựng những mối quan hệ bền chặt.
- Dẫn chứng phù hợp, thuyết phục.

0,5

* Mở rộng, bài học
- Phê phán lối nghe hời hợt, chỉ chờ đến lượt mình nói; lắng nghe không đồng nghĩa với chấp nhận mọi điều mà cần có sự tỉnh táo.
- Rèn thói quen lắng nghe chân thành trong gia đình, nhà trường và đời sống số.

0,25

d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

0,25

2

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, giá trị của người trẻ không còn nằm ở việc biết nhiều câu trả lời, mà ở năng lực đặt ra những câu hỏi đúng.

4,0

a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Giá trị của người trẻ trong thời đại trí tuệ nhân tạo nằm ở năng lực đặt ra những câu hỏi đúng.

0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau:

* Giải thích
- "Biết nhiều câu trả lời": tích luỹ, ghi nhớ nhiều thông tin, kiến thức có sẵn.
- "Năng lực đặt ra những câu hỏi đúng": khả năng nhận ra vấn đề cốt lõi, tư duy phản biện, xác định đúng hướng tìm tòi và giải quyết.
- Ý kiến khẳng định: khi trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp câu trả lời nhanh chóng, giá trị riêng của con người chuyển sang năng lực tư duy, phát hiện và định hướng vấn đề.

0,5

* Bàn luận về tính đúng đắn của ý kiến
- Trí tuệ nhân tạo tra cứu, tổng hợp thông tin nhanh và rộng hơn con người; việc ghi nhớ đơn thuần không còn là lợi thế cạnh tranh.
- Câu hỏi đúng quyết định chất lượng câu trả lời: hỏi đúng mới khai thác hiệu quả công nghệ, tránh bị thông tin sai lệch dẫn dắt.
- Đặt câu hỏi đúng là gốc của sáng tạo, phát minh và giải quyết vấn đề mới; là biểu hiện của tư duy độc lập, bản lĩnh của người trẻ.
- Dẫn chứng phù hợp, thuyết phục.

1,0

* Nhìn nhận đa chiều, mở rộng vấn đề
- Không xem nhẹ việc tích luỹ kiến thức: muốn hỏi đúng phải có nền tảng hiểu biết vững vàng; biết nhiều và hỏi đúng bổ sung cho nhau.
- Phê phán lối học thụ động, lệ thuộc vào trí tuệ nhân tạo, ngại suy nghĩ, ngại đặt câu hỏi; đồng thời cảnh giác với những câu hỏi lệch chuẩn, thiếu trách nhiệm.

0,75

* Bài học nhận thức và hành động
- Người trẻ cần chủ động học tập, rèn tư duy phản biện, dám hoài nghi và đặt câu hỏi.
- Sử dụng trí tuệ nhân tạo như công cụ hỗ trợ, không để nó thay thế quá trình suy nghĩ của bản thân.

0,75

d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

0,25

TỔNG ĐIỂM

10,0

Chỉ cho điểm tối đa khi bài viết đảm bảo cả yêu cầu về nội dung và hình thức. Thí sinh có thể trình bày theo cách khác, nếu hợp lí, có căn cứ và thuyết phục vẫn cho điểm tương ứng.

Xem tất cả