SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THPT …
Đề chính thức
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Môn: Ngữ văn – Lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Tóm tắt bối cảnh: Bà lão lòa vốn là người có của trong làng, hay giúp đỡ kẻ nghèo; vì khóc thương đứa con trai phá tán gia sản rồi bỏ đi mà bà lòa cả hai mắt. Khi sa cơ, bà phải ăn nhờ ở đậu nhà vợ chồng người cháu họ đánh giậm nghèo túng. Đoạn trích kể lại một bữa cơm trong túp lều tranh của gia đình ấy và những lời nói của người cháu dành cho bà.
Đoạn trích:
Vợ nhìn chồng thờ dài rồi lại nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm cái đũa cả, gặm những hột còn dính lại. Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lấy bảy chìa bát ra toan xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi...! Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy... Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đờ người ra một lúc rồi đứng lên, đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng.
[...]
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn rúm lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò dò bò đến với bà, không hiểu sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:
- Này bà! Bà đừng làm sốt ruột...! Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm cháu giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải khóc...
Giọng nói day dứt mà lạnh lùng như từng nhát búa bảo vệ thành sắt vang động bên tại, bà lão hoảng hồn, trong hốc con mắt lòa trọn trạo cầm nước mắt cho khỏi chảy ra, trông rõ đôi lòng trắng đảo đi đảo lại...
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó đặt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
(Trích truyện ngắn Bà lão lòa)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể và người kể chuyện trong đoạn trích.
Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những chi tiết thể hiện sự tàn nhẫn của vợ chồng bác đánh giậm với bà lão lòa.
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Giọng nói day dứt mà lạnh lùng như từng nhát búa bảo vệ thành sắt vang động bên tại.”
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích ý nghĩa của chi tiết: “Bà lão giật mình, đờ người ra một lúc rồi đứng lên, đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng.”
Câu 5 (1,0 điểm). Khái quát chủ đề của đoạn trích và làm rõ thông điệp nhân đạo mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích.
Câu 6 (1,5 điểm). Từ số phận bà lão lòa, anh/chị viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử của con người với những người già neo đơn hôm nay.
PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)
Tóm tắt bối cảnh: Bà lão nghèo, chồng và con trai đều mất sớm, con dâu đi lấy chồng khác, bà nuôi cháu rồi đành cho cháu đi làm con nuôi. Sau một trận ốm nặng, bà không còn sức buôn bán, phải đi ở nuôi trẻ, nhiều lần bị đuổi, cuối cùng ngã què tay và bị cho “về hưu trí” với năm hào. Hơn ba tháng bà chỉ ăn bánh đúc rồi nhịn đói, nhớ cháu nên tìm đến nhà bà phó Thụ xin một bữa cơm.
Đoạn trích:
Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. [...] Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên.
- Mời bà phó...
Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát:
- Thôi, bà ăn đi! Đừng mời!
Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải miết. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mấm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mấm ra ngoài bát... Bà cạo cái nồi sồn sột.
[...]
À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. [...] Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Và đã đi ăn chục thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết.
[...]
Ái chà! Bây giờ thì bà đã no. Bà bỗng nhiên nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở.
[...]
Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no” và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:
- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!...
(Trích Một bữa no – Nam Cao, in trên Tiểu thuyết thứ bảy, số 480, ngày 25-9-1943)
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện trên.
--------- HẾT ---------
Họ và tên thí sinh: ................................................ Số báo danh: ........................
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THPT …
Hướng dẫn chấm chính thức
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Môn: Ngữ văn – Lớp 12
Năm học 2026 – 2027
HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Thang điểm 10,0; điểm toàn bài làm tròn đến 0,25.
- Học sinh trình bày, sắp xếp ý khác nhưng đủ nội dung vẫn cho điểm tối đa; khuyến khích bài có sáng tạo, lập luận chặt chẽ.
- Câu hỏi mở: chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.
B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
I | ĐỌC HIỂU | 6,0 | |
1 | Ngôi kể thứ ba; người kể chuyện giấu mình, đứng ngoài câu chuyện, biết hết sự việc và tâm trạng nhân vật (người kể chuyện toàn tri). | 0,5 | |
2 | - Lời nói: quát khi bà chìa bát xin thêm cơm (“Hết rồi...! Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra...”); xỉa xói khi bà khóc; thẳng thừng tuyên bố không nuôi nữa. | 0,5 | |
- Hành động, cách đối xử: tính toán từng lưng cơm; đẩy bà ra đầu đê ngồi xin ăn để đỡ “cái mồm bà”. | 0,5 | ||
3 | - Biện pháp so sánh: giọng nói “day dứt mà lạnh lùng” của bác gái được so sánh với “từng nhát búa bảo vệ thành sắt”; từ so sánh “như”. | 0,25 | |
- Hiệu quả gợi tả: mỗi lời nói giáng xuống như một nhát búa, dứt khoát, sắc lạnh, không chút thương xót, khiến bà lão choáng váng, đau đớn. | 0,25 | ||
- Tác dụng: cụ thể hóa sự vô tình, tàn nhẫn của người cháu; khắc sâu nỗi tủi nhục của bà lão; thể hiện thái độ xót xa, phê phán của người kể chuyện; câu văn giàu hình ảnh, ám ảnh. | 0,5 | ||
4 | - Chi tiết tái hiện phản ứng của bà lão trước lời quát của bác gái: giật mình, đờ người, rồi lặng lẽ lui vào bậu cửa — không dám đáp lại, chỉ biết chịu đựng. | 0,5 | |
- Hành động “lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng” là cách bà che giấu nỗi tủi nhục, giữ chút thể diện trước mặt người khác; chi tiết nhỏ mà thấm thía, gợi thân phận người già bị ruồng bỏ, thể hiện lòng xót thương của người kể chuyện. | 0,5 | ||
5 | - Chủ đề: khắc họa thân phận bi thảm của người già nghèo trong xã hội cũ — người từng giàu có, nhân hậu nay bị chính người thân ruồng bỏ, phải ăn nhờ ở đậu và bị đẩy ra đầu đê xin ăn; qua đó tố cáo sự vô tình, tàn nhẫn của con người khi bị cái nghèo đẩy vào ích kỷ. | 0,5 | |
- Thông điệp nhân đạo: xót thương, nâng niu những số phận bé nhỏ, bất hạnh; lên án xã hội bất công và thói vô cảm, toan tính; nhắc nhở con người giữ lòng nhân hậu, biết ơn, không quay lưng với người thân khi họ sa cơ, yếu đuối. | 0,5 | ||
6 | Gợi ý: nêu thực trạng nhiều người già neo đơn bị bỏ rơi, bị đối xử bất công; khẳng định cần hiếu thảo, kính trọng, chăm sóc người già và sự đùm bọc của cộng đồng; phê phán thái độ vô cảm, toan tính, vụ lợi; liên hệ bản thân. Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục. | 1,0 | |
- Đảm bảo hình thức đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. | 0,5 | ||
II | VIẾT | 4,0 | |
1 | a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận: mở bài nêu vấn đề, thân bài triển khai, kết bài khái quát; dung lượng khoảng 600 chữ. | 0,5 | |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: so sánh, đánh giá hai đoạn trích trong Bà lão lòa và Một bữa no. | 0,5 | ||
c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm: | 0,25 | ||
* Điểm tương đồng và nguyên nhân: | 0,75 | ||
* Điểm khác biệt và lí giải: | 0,75 | ||
* Đánh giá: hai đoạn trích bổ sung cho nhau, cùng khẳng định giá trị nhân đạo – cảm thương con người bé nhỏ và lên án xã hội vô tình; mỗi đoạn có cách thể hiện riêng, góp phần làm phong phú văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng. | 0,25 | ||
d. Chính tả, ngữ pháp: bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. | 0,5 | ||
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,5 | ||
TỔNG ĐIỂM | 10,0 | ||











