Đề kiểm tra giữa học kì I – Ngữ văn 12 (năm học 2026 – 2027)

Ngữ vănLớp 12BChia sẻ bởi Bùi Ngọc Lan 1 lượt sử dụng đề

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …

TRƯỜNG THPT …

Đề chính thức

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I

Môn: Ngữ văn – Lớp 12

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

Vợ nhìn chồng thờ dài rồi lại nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm cái đũa cá, gặm những hột cơm còn đính lại. Bà lão lòa ăn hết một lưng, tay run run chia bát ra toan xin thêm ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:

- Hết rồi...! Còn đâu nữa mà chia mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy... Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.

Bà lão giật mình, đờ người ra một lúc rồi đứng lên, đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng. Ngồi đó, bà nghĩ miên man. Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia, ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thần thức, trên hai gò má răn rúm lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò dò bò đến với bà, không hiểu sao bỗng cũng khóc thét lên.

Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:

- Này bà! Bà đừng làm sốt ruột...! Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm cháu giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải khóc...

Giọng nói day dứt mà lạnh lùng như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai, bà lão hoàng hồn, trong hốc con mắt lòa tròng trạo cảm nước mắt cho khói chảy ra, trông rõ đôi lòng trắng đảo đi đảo lại...

- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó đặt bà ra đầu đê, bà ngồi dưới bóng cây gạo, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...

(Trích truyện ngắn Bà lão lòa)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể và người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những chi tiết, hình ảnh miêu tả tâm trạng và hành động của bà lão lòa sau khi bị bác gái quát trong đoạn trích.

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Giọng nói day dứt mà lạnh lùng như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai.”

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích ý nghĩa của chi tiết: “Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò dò bò đến với bà, không hiểu sao bỗng cũng khóc thét lên.”

Câu 5 (1,0 điểm). Anh/chị hãy nêu thông điệp có ý nghĩa nhất mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích và lí giải vì sao anh/chị lựa chọn thông điệp đó.

Câu 6 (1,5 điểm). Từ số phận bà lão lòa, anh/chị viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử của con người với những người già neo đơn hôm nay.

PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. [...] Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên.

- Mời bà phó...

Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát:

- Thôi, bà ăn đi! Đừng mời!

Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mãi miết. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát... Bà cạo cái nồi sồn sột.

[...]

À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. [...] Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Và đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết.

[...]

Ái chà! Bây giờ thì bà đã no. Bà bỗng nhiên nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tung tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở.

[...]

Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no” và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:

- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn no vào!...

(Trích Một bữa no – Nam Cao, in trên Tiểu thuyết thứ bảy, số 480, ngày 25-9-1943)

Câu 1 (4,0 điểm). Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích trên.

--------- HẾT ---------

Họ và tên thí sinh: ................................................ Số báo danh: ........................

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …

TRƯỜNG THPT …

Hướng dẫn chấm

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I

Môn: Ngữ văn – Lớp 12

A. HƯỚNG DẪN CHUNG

- Thang điểm 10,0; điểm toàn bài làm tròn đến 0,25.
- Học sinh trình bày, sắp xếp ý khác nhưng đủ nội dung vẫn cho điểm tối đa; khuyến khích bài có sáng tạo, lập luận chặt chẽ.
- Câu hỏi mở: chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.

B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

6,0

1

Ngôi kể thứ ba; người kể chuyện giấu mình, đứng ngoài câu chuyện, biết hết sự việc và tâm trạng nhân vật (người kể chuyện toàn tri).
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm.
- Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm.

0,5

2

Những hình ảnh miêu tả bà lão lòa khi bị bác gái quát:
- Khi vừa toan chia thêm bát cơm đã bị quát: “Bà lão giật mình, đờ người ra một lúc rồi đứng lên, đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng.” — sững sờ, lặng lẽ lùi về, không dám đáp lại.
- Khi bị xỉa xói vì khóc: “trên hai gò má răn rúm lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng”; “Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực” — nỗi tủi nhục nén chặt, chỉ dám khóc thầm.

0,5

- Nhận xét chung về các hình ảnh ấy: đó là những phản ứng của một người già yếu, lòa mắt, từng có của và nhân hậu nay phải ăn nhờ ở đậu: cam chịu, giữ chút thể diện, không một lời chống đỡ; qua đó người kể chuyện bộc lộ lòng xót thương và tố cáo sự lạnh lùng của người trong nhà.

0,5

Hướng dẫn chấm:
- Nêu được cả hai nhóm hình ảnh như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
- Nêu được một nhóm hình ảnh (hình ảnh sau lần quát thứ nhất hoặc sau lần xỉa xói): 0,5 điểm.
- Chỉ nêu chi tiết không có trong đoạn trích thì không cho điểm chi tiết đó.
- Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm.

3

- Biện pháp tu từ so sánh: giọng nói “day dứt mà lạnh lùng” của bác gái được so sánh với “từng nhát búa bổ vào thành sắt”; từ so sánh “như”.

0,25

- Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Giúp diễn đạt trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm: mỗi lời nói của bác gái giáng xuống như một nhát búa, dứt khoát, sắc lạnh, không chút thương xót.
+ Khắc sâu nỗi choáng váng, đau đớn, tủi nhục của bà lão lòa trước sự tàn nhẫn của chính người thân.
+ Thể hiện thái độ xót xa, phê phán của người kể chuyện; làm câu văn giàu hình ảnh, ám ảnh người đọc.

0,75

Hướng dẫn chấm:
- Chỉ ra đúng biện pháp so sánh và từ so sánh: 0,25 điểm.
- Phân tích được tác dụng: 0,75 điểm (nêu được 3 ý như đáp án hoặc tương đương: 0,75 điểm; được 2 ý: 0,5 điểm; được 1 ý: 0,25 điểm).
- Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm.

4

Ý nghĩa của chi tiết “... khiến thằng cu con lò dò bò đến với bà, không hiểu sao bỗng cũng khóc thét lên”:
- Đứa cháu nhỏ chưa hiểu sự đời, chưa hiểu vì sao bà khóc mà vẫn lò dò bò đến bên bà rồi khóc theo: đó là sự đồng cảm hồn nhiên, bản năng của tình thương — người duy nhất ở bên bà lúc ấy lại là một đứa trẻ chưa biết gì.
- Chi tiết làm nỗi đau của bà lão như có người sẻ chia mà lại càng xót xa; đồng thời góp phần tố cáo sự lạnh lùng, vô tình của người lớn trong nhà và thể hiện cái nhìn nhân hậu, xót thương của người kể chuyện; chi tiết nhỏ mà ám ảnh, giàu sức gợi.

1,0

Hướng dẫn chấm:
- Trả lời được như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
- Trả lời được 1 ý hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm.
- Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.
- Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm.

5

Thông điệp có ý nghĩa nhất mà tác giả gửi gắm và lí giải:
- Nêu được một thông điệp có ý nghĩa nhất, chẳng hạn: hãy xót thương, nâng niu và biết ơn những người già bất hạnh, từng nhân hậu, giúp đời mà nay sa cơ, yếu đuối; không quay lưng, không vô cảm, toan tính với người thân khi họ lâm cảnh khốn cùng; cái nghèo có thể làm băng hoại tình thân, nên con người phải giữ lòng nhân hậu trước thử thách của cái đói.
- Lí giải vì sao lựa chọn thông điệp đó: thông điệp ấy thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo của tác giả, gắn trực tiếp với các chi tiết tiêu biểu của đoạn trích (bà lão từng có của, hay giúp kẻ nghèo, vì khóc thương con mà lòa mắt, nay bị quát mắng, bị tính từng lưng cơm, bị toan đặt ra đầu đê xin ăn); có sức lay động và ý nghĩa với người đọc hôm nay, gợi liên hệ trách nhiệm của mỗi người với người già neo đơn.

1,0

Hướng dẫn chấm:
- Trả lời được như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
- Trả lời được 1 ý (nêu thông điệp hoặc lí giải): 0,5 điểm.
- Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.
- Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm.

6

Gợi ý: nêu thực trạng nhiều người già neo đơn bị bỏ rơi, bị đối xử bất công; khẳng định cần hiếu thảo, kính trọng, chăm sóc người già và sự đùm bọc của cộng đồng; phê phán thái độ vô cảm, toan tính, vụ lợi; liên hệ bản thân.

1,0

- Đảm bảo hình thức đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.

0,5

Hướng dẫn chấm:
- Nội dung: trình bày được 4 ý như gợi ý hoặc tương đương: 1,0 điểm; được 3 ý: 0,75 điểm; được 2 ý: 0,5 điểm; được 1 ý: 0,25 điểm.
- Hình thức: đúng dung lượng, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp: 0,5 điểm; mắc một vài lỗi: 0,25 điểm.
- Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lí, thuyết phục.

II

VIẾT

4,0

1

a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận: mở bài nêu vấn đề, thân bài triển khai, kết bài khái quát; dung lượng khoảng 600 chữ.

0,5

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: so sánh, đánh giá hai đoạn trích trong Bà lão lòa và Một bữa no.

0,5

c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm:
* Giới thiệu hai đoạn trích, cơ sở và mục đích so sánh, đánh giá (xuất xứ, nội dung; cùng viết về thân phận người già nghèo trong xã hội cũ, cùng chọn tình huống bữa ăn để bộc lộ nhân cách).

0,25

* Điểm tương đồng và nguyên nhân:
- Cùng đề tài, cảm hứng: xót thương thân phận người già bị ruồng bỏ, tố cáo sự vô tình của con người khi bị cái nghèo đẩy vào ích kỷ.
- Cùng chọn tình huống bữa cơm: bà lão lòa chia bát xin thêm thì bị quát; bà lão trong Một bữa no ăn cố cho no sau bao ngày đói.
- Cùng nghệ thuật: trần thuật ngôi thứ ba, chi tiết chân thực, đối thoại tự nhiên, giọng điệu xót xa; mỗi đoạn đều khép lại bằng một chi tiết đau đớn (bà lão lòa gục đầu khóc trong bậu cửa; bà lão trong Một bữa no chết sau bữa no).
- Nguyên nhân: cùng phản ánh hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, nơi cái đói làm băng hoại tình thân; người viết đều giàu lòng nhân đạo.

0,75

* Điểm khác biệt và lí giải:
- Bà lão lòa: nạn nhân là người thân trong nhà (bà lão lòa ăn nhờ ở đậu vợ chồng người cháu họ); cái đói khiến người cháu tính từng lưng cơm, quát mắng, toan đặt bà ra đầu đê xin ăn; đoạn trích khai thác sâu tâm trạng, hồi tưởng, giàu chất trữ tình; giọng xót xa, day dứt.
- Một bữa no: bà lão đi ăn chục, bị người ta ăn nhanh, đứng dậy hết, phải ăn cố cho no rồi chết – nghịch lí tàn nhẫn; tập trung miêu tả hành vi, đối thoại; giọng chua chát, mỉa mai; câu nói của bà phó Thụ biến cái chết thành “bài học”.
- Lí giải: do cách khai thác hiện thực, điểm nhấn nghệ thuật và giọng điệu trần thuật của mỗi tác phẩm.

0,75

* Đánh giá: hai đoạn trích bổ sung cho nhau, cùng khẳng định giá trị nhân đạo – cảm thương con người bé nhỏ và lên án xã hội vô tình; mỗi đoạn có cách thể hiện riêng, góp phần làm phong phú văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng.

0,25

d. Chính tả, ngữ pháp: bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

0,5

e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

0,5

TỔNG ĐIỂM

10,0

Xem tất cả