Câu 1 (8,0 điểm).
Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm viết:
“Nhẹ tênh đi vào cõi khác
Bung mình ra để thăng hoa
Không đợi cắm mình vào lục bình để thành tên tuổi
Biết làm gì để tự đi xa.”
(Trích Hỏa lau – Nguyễn Minh Khiêm, Viết & Đọc, Chuyên đề mùa Thu 2022, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr. 208)
Những câu thơ trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? Là một người trẻ, anh/chị lựa chọn cách gì để “tự đi xa”?
Câu 2 (12,0 điểm).
Bàn về nhân vật trong truyện, có ý kiến cho rằng: “Nhân vật trong tác phẩm của một thiên tài thực sự nhiều khi thật hơn cả con người ngoài đời, bởi sức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó. Qua nhân vật, ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại, thậm chí có nhân vật vượt lên cả thời đại, có ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu sống mãi với thời gian”.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chứng minh qua văn bản trích trong truyện ngắn Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu dưới đây:
PHIÊN CHỢ GIÁT
(Nguyễn Minh Châu)
[Lược phần đầu: Lão Khúng là người dân đầu tiên lên khai phá vùng đất mới, và con bò Khoang Đen gắn bó với gia đình lão từ những ngày đầu vất vả, khó khăn ấy. Tuy nhiên, nay con bò đã già, dù cả gia đình đều quyến luyến nó, nhưng lão đành phải bán đi. Trên đường đưa con bò xuống thị trấn Cầu Giát để bán, nhân tiện thăm đứa con gái đang trọ học ở đấy, lão đi đến một quyết định...]
Thế rồi đột nhiên lão Khúng đi đến một cái quyết định đầy điên rồ: lão quyết định giải thoát cho con vật! Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa....
Lão nhảy xuống, đi đến bên cạnh con vật, đặt cả hai bàn tay lên cái cổ sần sùi đang đầy hơi sương lẫn mồ hôi, lão vỗ vỗ con vật một hồi rồi cầm cái ách đặt xuống bên cạnh hai chân trước của nó. Con vật ngẩng cao cổ, thè lưỡi liếm lên vai, lên cổ lão, mỗi lần cái lưỡi mềm và ram ráp đụng vào da thịt, lão lại sởn gai ốc, tưởng như con vật đã cảm thấy được lão đang nghĩ gì; đang toan tính những gì; lão đang cởi ách suốt đời cho nó! Lão Khúng tự nhiên trở nên vội vã, lão kéo chiếc xe sang bên vệ đường, đem giấu sau những đám bờ bụi lúp xúp lẫn những tảng đá rồi trở về bên con vật đang đứng đó, nguyên tại chỗ.
– Nào, bây giờ thì tao giải thoát cho mày, lão lầm rầm nói với con vật thân yêu bằng cái giọng hơi cau có, mày hầu tao thế là đủ rồi đấy con ạ, bây giờ thì mày hãy đi đi, hãy vào rừng mà sống, cỏ đấy, cỏ trong rừng thiếu gì, mày ăn suốt đời không hết, khát thì có nước suối. Ở đây đi sâu vào bên trong sẽ có một bầy bò hoang. Chúng nó sướng như những bà hoàng, ông hoàng giữa núi non, cây cỏ, chẳng bao giờ phải kéo cày, kéo xe... Hãy đi đi, nào!
Lão cuộn vào năm ngón tay trái cái dây chão đã được tháo ra khỏi mũi con Khoang Đen, dùng đầu dây đánh một cái thật đau vào bên hông, bắt nó phải chạy té vào rừng. Con đường đi đến thế giới tự do của con Khoang Đen thật chẳng khác nào con đường đi đày. Sau lưng nó, lão Khúng lúc nào cũng hầm hầm hèm hèm giơ cao thanh roi sẵn sàng quất vào mông đến đau điếng nếu nó dừng lại, hoặc ngoái nhìn trở lại.
Cuộc xua đuổi cứ thế diễn ra lặng lẽ giữa đêm trường. Càng xua được con vật dẫn mình vào giữa rừng sâu và càng xa con đường “bò lăn” ở ngoài kia, lão Khúng càng thấy yên tâm, lại thấy có một cái gì khoái lạc, tự thỏa mãn, chẳng lẽ lão cảm thấy được lão đang xua đuổi cái số phận quá đỗi nhọc nhằn của lão ra khỏi đời lão, cái số phận nửa người nửa con vật?
Sau khi xua được con vật sang bên kia sườn núi đá thì lão Khúng đột ngột quay lưng lại phía nó. Không nói thêm một lời nào, lão bỏ đi, mất hút vào đêm tối. Lão trở về bên chiếc xe bò khi màn đêm đã nhợt trắng. Lão biết rằng từ đây trở đi chỉ còn một phần ba đường đất và đường xá cũng đỡ khốn khổ hơn.
(Lược một đoạn: Lão Khúng thay con bò, tự mình kéo chiếc xe về thị trấn Cầu Giát).
Lão Khúng đi thẳng đến trước một gian phòng cuối dãy mà lão vẫn quen thuộc, ở đấy con gái lão ở chung với mấy cô bạn học lớp dưới. Gian phòng của con lão khóa kín cửa. Lão đang toan gỡ đống củi xuống trước cửa phòng con gái lão thì tự nhiên lão ngớ người ra: lão vừa nhìn thấy một con bò đang nằm nhai cỏ bên vạt sân bóng chuyền của đám con gái ở bên hồi nhà. Ngay lập tức lão giật nảy mình sực nhận ra đích thị là nó, con Khoang Đen của nhà lão, cái con Khoang Đen mà trong đêm khuya khoắt lão đã đích thân dắt vào tận trong rừng thật sâu, rồi lại còn dùng roi vọt đánh đập vô cùng tàn nhẫn để xua nó đi về với cuộc sống tự do.
Con vật ngước cặp mắt đầy nhẫn nhục và sầu não lên nhìn lão Khúng. Đó là cái nhìn của một sinh vật tự nguyện chấp nhận số phận. Đứng lặng thinh bên chiếc xe chất đầy củi mà lão đã thay nó toát mồ hôi một mình kéo về được đến đây, lão Khúng cũng chả biết nói gì với con vật, lại càng không thể trách móc, lão chỉ đưa mắt nhìn người bạn đời làm ăn thân thiết bằng cái nhìn cũng đầy sầu não và phiền muộn.
(Theo http://vietnamthuquan.eu)
* Chú thích: Nguyễn Minh Châu là “người mở đường tinh anh và tài năng” cho văn học Việt Nam sau 1975. Truyện ngắn của ông thường tập trung vào các đề tài thế sự, đời thường, với nhiều trăn trở đổi mới về bút pháp. Các truyện ngắn tiêu biểu của ông: Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa,… Tác phẩm: Truyện ngắn Phiên chợ Giát sáng tác năm 1989, in trong tập Cỏ lau, do NXB Tác phẩm mới ấn hành cùng năm.
--------- HẾT ---------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ................................................ Số báo danh: ........................
HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm một cách máy móc.
- Do đặc trưng của kỳ thi chọn học sinh giỏi, giám khảo cần linh hoạt, trân trọng và khuyến khích những bài viết có tư duy độc lập, có chiều sâu triết lí, kiến thức lí luận văn học vững vàng, lập luận sắc sảo và giàu chất văn.
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau nhưng nếu đáp ứng tốt các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, hợp lí, thuyết phục vẫn cho điểm tối đa.
- Điểm toàn bài tính theo thang điểm 20,0, giữ nguyên đến 0,25 điểm.
B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Câu | Nội dung | Điểm |
|---|
Câu 1 (8,0 điểm) | Suy nghĩ về những câu thơ của Nguyễn Minh Khiêm và lựa chọn cách để “tự đi xa” của người trẻ | 8,0 |
a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. | 0,5 |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Lối sống tự chủ, dám bứt phá để khẳng định giá trị đích thực của bản thân và cách thức để người trẻ tự lực vươn xa trên hành trình sống. | 0,5 |
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau: | |
* Giải thích và rút ra ý nghĩa của những câu thơ - “Nhẹ tênh đi vào cõi khác / Bung mình ra để thăng hoa”: Hình ảnh bông lau mỏng manh nhưng mang sức sống mãnh liệt; gợi thái độ sống thanh thoát, tự do, dám bước qua những giới hạn chật hẹp, dốc hết nội lực để bung tỏa và đạt tới sự thăng hoa của giá trị sống. - “Không đợi cắm mình vào lục bình để thành tên tuổi”: “Lục bình” là chiếc bình quý nơi không gian sang trọng – ẩn dụ cho những danh vị, khuôn mẫu hào nhoáng có sẵn hoặc sự dựa dẫm, chờ đợi người khác sắp đặt, công nhận. Câu thơ khẳng định bản lĩnh kiêu hãnh: giá trị của mỗi cá thể không nằm ở “chiếc bình” chứa đựng nó mà ở sức sống tự thân. - “Biết làm gì để tự đi xa”: Sự tỉnh táo nhận thức về năng lực nội tại và ý chí tự lực, chủ động kiến tạo con đường phát triển bền vững. - Khái quát ý nghĩa đoạn thơ: Mượn hình tượng hoa lau, tác giả gửi gắm triết lí nhân sinh sâu sắc về lối sống tự chủ, dám dấn thân tỏa sáng bằng giá trị thực và tự mình vươn tới những chân trời rộng lớn. | 1,5 |
* Bàn luận về lối sống tự khẳng định giá trị và khát vọng “tự đi xa” - Cuộc sống là hành trình hữu hạn; mỗi cá nhân chỉ thực sự sống có ý nghĩa khi dám “bung mình ra để thăng hoa”, dám sống hết mình với đam mê, khát vọng và năng lực riêng biệt. - Việc từ chối “đợi cắm mình vào lục bình để thành tên tuổi” giúp con người thoát khỏi tâm lí ỷ lại, thụ động, không trở thành vật trang trí vô hồn trong những khuôn thước định sẵn hay chạy theo hư danh phù phiếm. - Giá trị bền vững nhất của con người được làm nên từ nội lực, bản lĩnh vượt khó và khả năng tự thích ứng, tự vươn lên như hạt bông lau nương theo gió mà đi khắp muôn phương. - Khi biết chủ động giải phóng năng lượng tích cực của bản thân, con người không chỉ định vị được bản sắc cá nhân mà còn đóng góp những giá trị thực chất cho cuộc đời. | 2,5 |
* Lựa chọn của người trẻ để “tự đi xa” (Gợi ý) - Chuẩn bị nền tảng nội lực vững vàng: không ngừng trau dồi tri thức, kĩ năng, đạo đức và khả năng tư duy độc lập để làm hành trang tự lập. - Rèn luyện bản lĩnh dám bước ra khỏi “vùng an toàn”, dám đối diện với thử thách, thất bại và kiên định với mục tiêu đã chọn. - Biết lắng nghe, thấu hiểu chính mình để phát huy thế mạnh riêng, đồng thời biết kết nối, sẻ chia với cộng đồng (bởi “đi cùng nhau” trên nền tảng “tự lực” sẽ giúp người trẻ đi được thật xa và bền vững). (Chấp nhận cách diễn đạt và lựa chọn khác của thí sinh nếu hợp lý, thuyết phục). | 1,25 |
* Mở rộng, phản biện và bài học nhận thức, hành động - Phê phán lối sống dựa dẫm, thích hào nhoáng bề ngoài, háo danh hoặc tự ti, an phận, không dám bứt phá. - Mở rộng: “Không đợi cắm mình vào lục bình” và “tự đi xa” không đồng nghĩa với thái độ ngạo mạn, cực đoan, phủ nhận sự nâng đỡ chính đáng của gia đình, truyền thống hay tách mình khỏi các chuẩn mực xã hội. - Rút ra bài học sâu sắc về ý thức tự rèn luyện và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ hôm nay. | 0,75 |
d. Chính tả, ngữ pháp Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. | 0,5 |
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, giàu hình ảnh và cảm xúc. | 0,5 |
Câu 2 (12,0 điểm) | Bàn về sức sống và ý nghĩa điển hình của nhân vật văn học; chứng minh qua đoạn trích truyện ngắn Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu | 12,0 |
a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. | 0,5 |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Tính chân thật, sức sống lâu bền và ý nghĩa điển hình (giai cấp, thời đại, nhân loại) của nhân vật văn học trong sáng tác của nhà văn lớn; làm sáng tỏ qua hình tượng nhân vật trong đoạn trích Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu. | 0,5 |
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ lí luận văn học và phân tích văn bản; bảo đảm các yêu cầu sau: | |
* Giải thích ý kiến - “Nhân vật trong tác phẩm”: hình tượng con người nghệ thuật được nhà văn sáng tạo bằng chất liệu ngôn từ theo quy luật thẩm mĩ, là phương tiện trung tâm để phản ánh hiện thực và biểu đạt tư tưởng. - “Thật hơn cả con người ngoài đời, bởi sức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó”: Nhân vật của bậc thiên tài không phải phép cộng cơ học hay bản sao chụp ngẫu nhiên ngoài đời, mà là kết tinh của quá trình chắt lọc, khái quát hóa cao độ kết hợp với cá tính hóa sắc nét. Nhờ mang bản chất điển hình, nhân vật hiện lên tập trung, sống động và có tuổi thọ vượt xa con người sinh học ngoài đời thực. - “Qua nhân vật, ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại, thậm chí có nhân vật vượt lên cả thời đại, có ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu sống mãi với thời gian”: Khẳng định hai tầng giá trị của nhân vật điển hình kết tinh từ ngòi bút lớn – vừa mang dấu ấn lịch sử, xã hội cụ thể (đại diện cho số phận, tính cách một tầng lớp, giai cấp, thời đại), vừa chạm tới những vấn đề bản thể, nhân tính phổ quát của con người muôn thuở. | 2,0 |
* Bàn luận, lí giải cơ sở lí luận của ý kiến - Xuất phát từ quy luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật (đặc biệt là thể loại tự sự): Nghệ thuật không đòi hỏi người ta coi tác phẩm của nó như thực tại, nhưng lại chạm tới bản chất sâu kín nhất của thực tại. Nhân vật điển hình là sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng độc đáo (cá tính) và cái chung bản chất (tầng lớp, thời đại, nhân loại). - Xuất phát từ tầm vóc tư tưởng và tài năng của “thiên tài thực sự”: Nhà văn lớn có đôi mắt nhìn xuyên suốt bề sâu lịch sử và trái tim nhân đạo vĩ đại. Họ không chỉ ghi chép số phận con người trong một bối cảnh hẹp mà còn đặt con người trước những câu hỏi triết học về tự do, số phận, hạnh phúc và nhân phẩm. - Xuất phát từ quá trình tiếp nhận văn học: Chính tầm vóc nhân loại giúp nhân vật vượt qua ranh giới không gian, thời gian để đối thoại không ngừng với nhiều thế hệ độc giả. | 2,0 |
* Chứng minh qua đoạn trích “Phiên chợ Giát”: Sức sống chân thật, ý nghĩa điển hình và tầm vóc nhân loại của nhân vật lão Khúng (gắn với hình ảnh con bò Khoang Đen) - Sức sống chân thật đến tận cùng trong thế giới nội tâm của lão Khúng: + Lão Khúng không phải là nhân vật lí tưởng hóa một chiều mà hiện lên vô cùng thật trong những giằng xé tâm lí phức tạp khi đưa con bò già gắn bó cả đời đi bán. + Hành động giải thoát cho con Khoang Đen vừa “điên rồ” vừa nhân hậu: đôi bàn tay vỗ về cái cổ sần sùi của con vật, lời trò chuyện lầm rầm cau có mà ứa nước mắt yêu thương, và cả những roi quất đau điếng để đuổi con bò vào rừng sâu tìm tự do. - Ý nghĩa điển hình cho một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại: + Lão Khúng là hình ảnh thu nhỏ của tầng lớp nông dân Việt Nam cần cù, lam lũ một đời trên những vùng đất khai hoang, gắn bó máu thịt với ruộng đồng và con vật nuôi (“Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão”). + Kết tinh vẻ đẹp tâm hồn trọng ân nghĩa, giàu lòng trắc ẩn của người nông dân: coi việc bán con bò già cho lò mổ là sự bội bạc (“Lão thấy lão không còn là giống người nữa”), chấp nhận tự mình thay bò kéo xe. + Phản ánh bi kịch lịch sử của người nông dân Việt Nam một thời: kiếp sống nhọc nhằn trên con đường “bò lăn”, lam lũ đến mức lầm lũi, cơ cực (“cái số phận quá đỗi nhọc nhằn của lão... cái số phận nửa người nửa con vật”). - Tầm vóc vượt lên thời đại, mang ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu: + Cuộc giải thoát bất thành ở cuối đoạn trích (con bò Khoang Đen được xua vào rừng tự do nhưng lại âm thầm đi theo lão về thị trấn Cầu Giát, nằm nhai cỏ và ngước nhìn lão bằng “cặp mắt đầy nhẫn nhục và sầu não”) đã nâng nhân vật lên tầm khái quát triết học toàn nhân loại. + Con Khoang Đen chính là sự phân thân, là “cái bóng” định mệnh của lão Khúng. Qua cái nhìn của “một sinh vật tự nguyện chấp nhận số phận” và ánh mắt “đầy sầu não và phiền muộn” của lão Khúng, Nguyễn Minh Châu chỉ ra bi kịch sâu thẳm của con người: khi đã quá quen với chiếc ách nô dịch, sự tăm tối và thói quen cam chịu, con người dễ trở nên bơ vơ, sợ hãi trước tự do và tự nguyện quay về với chiếc ách khổ ải của mình. + Đặt ra thông điệp nhân bản muôn đời: giải phóng con người khỏi sự nghèo đói bên ngoài đã khó, nhưng giải phóng con người khỏi “chiếc ách” nô lệ vô hình trong tâm thức và thói quen nhẫn nhục còn gian nan hơn gấp bội. | 3,5 |
* Chứng minh qua nghệ thuật xây dựng nhân vật bậc thầy của Nguyễn Minh Châu - Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lí sắc sảo: khắc họa dòng ý thức, độc thoại nội tâm, những chuyển biến vi tế giữa thực tại và suy tưởng. - Thủ pháp song trùng / lưỡng hóa hình tượng nghệ thuật: đặt lão Khúng bên cạnh con bò Khoang Đen để hai hình tượng soi chiếu, đồng hiện số phận của nhau. - Xây dựng tình huống nhận thức giàu tính nghịch lí và các chi tiết nghệ thuật mang sức nặng biểu tượng (chiếc ách được tháo ra, ngọn roi xua đuổi đi về phía tự do như đi đày, ánh mắt nhẫn nhục nhìn nhau ở cuối truyện). - Giọng điệu trần thuật trầm buồn, trăn trở, giàu tính triết luận thế sự. | 1,5 |
* Đánh giá, mở rộng và nâng cao vấn đề - Khẳng định tính đúng đắn của nhận định: Nhân vật lão Khúng trong Phiên chợ Giát là minh chứng tiêu biểu cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam thời kì Đổi mới – từ nhân vật sử thi bước sang nhân vật thế sự, đời thường nhưng mang tầm vóc triết học nhân sinh sâu rộng. - Bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận: Nhà văn muốn tạo nên những nhân vật sống mãi với thời gian phải cắm sâu ngòi bút vào mảnh đất hiện thực, đồng thời có tư tưởng nhân문 lớn lao và bản lĩnh cách tân nghệ thuật; người đọc khi tiếp nhận nhân vật cần đi từ lớp vỏ xã hội - lịch sử để chạm tới tầng sâu nhân bản vĩnh cửu. | 1,0 |
d. Chính tả, ngữ pháp Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. | 0,5 |
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; vận dụng lí luận văn học nhuần nhuyễn, có cách diễn đạt độc đáo, giàu chất văn. | 0,5 |
TỔNG ĐIỂM | 20,0 |
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi bài viết đảm bảo cả yêu cầu về nội dung và hình thức.