Đề kiểm tra giữa kỳ 1 môn Ngữ văn

Ngữ vănLớp 12NChia sẻ bởi Nguyễn Hoàng Hà Thi 0 lượt sử dụng đề

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ GIỮA KỲ 1

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

ĐONG TẤM LÒNG

Bà mẹ kể ngày xưa dì Chín nghèo nhứt gánh mình. Áng chừng còn ba tháng nữa tới đám giỗ bên nhà ngoại, Chín đi mua chục vịt con về nuôi. Vịt của Chín lớn lên không nhờ hột lúa nào (thứ đó dành cho bốn miệng người trong nhà còn không đủ), dì nuôi chúng bằng cám trộn bèo, cuối chiều có thêm mớ ốc bươu vàng tách vỏ bằm nhỏ. Đúng giỗ dì bắt cặp vịt xách về, cúng ông ngoại cái món ông ưa nhứt hồi còn sống; vịt luộc chấm mắm gừng. Có năm vịt còi vì ăn không đủ sức, lườn bén lẹm tóp khố. Có năm gió độc làm cả bầy lăn ra chết hết, Chín đi câu cá lóc mang về cúng. Và những gì Chín đem qua làm giỗ, ai cũng nâng niu cảm động. Con cá lóc với cái măng tre ấy cũng có giá trị ngang bằng với con heo quay cậu Hai chở từ ngoài chợ vô.

Với một gia đình đông con, tứ tán khắp nơi, đám giỗ ông ngoại là bữa tiệc huy hoàng. Hình dung linh hồn ông ăn hết từng ấy món, chắc lặc lè bay không nổi. Dọn mâm cúng đã thấy chóng mặt, ai cũng đem theo những thứ ngon nhất trong vườn nhà mình. Biết Chín có măng tre đầu mùa, mẹ mua giò heo, vậy là thành một món ngon. Không ai, kể cả Chín phải thấy tủi thân vì đã cúng ông già bằng những thứ còm nhom rẻ rề. Chẳng ai so đo chuyện nhiều ít, mà cũng không so đo được. Như Chín, làm sao tính được công đi bắt ốc vớt bèo nụm nịu nuôi bầy vịt, công xa xót khi chuột cống xông vào chuồng cắn cổ chết mấy con, công dầm mình đi cắm câu, đặt trúm.

Bà mẹ nói hồi xưa đám giỗ vui, giàu nghèo đề huê không khoảng cách. Ai đem gì về cúng cũng không quan trọng bằng đủ mặt. Đám giỗ giữa năm nhưng ngày từ Tết đã hẹn nhau về. Diễn ra chỉ hai ngày nhưng giỗ đã được nhen lên trong mỗi đứa con từ vài ba tháng trước. Người này trồng khóm, gieo cải sao cho ngay dịp giỗ đó là có rau trái lứa đầu, người kia để dành thứ nếp dẻo thơm gói bánh, cậu Út thì tự mình làm men, nấu rượu, cái thứ rượu trắng chưng đi cất lại để đám đàn ông uống không nhức đầu.

Hồi xưa đám giỗ vui, bà mẹ bần thần nói hoài. Khi đó Chín đã ra về. Nhắn Chín qua nhà là để cho dì ít tiền về đám giỗ ngoại. Bây giờ không cần nuôi vịt xách qua vì cậu nói không cần. Xóm mình đám giỗ, thôi nôi hay đầy tháng cũng bằng tiền tuốt. Đi bằng tiền gọn gàng và dễ dàng để nấu nướng những món đã tính trước.

Nhưng tiền thì đong đo được, bằng mắt thường. Nó làm tổn thương Chín, người sớm mai oằn vai gánh rau đi chợ, gánh thêm ông chồng hen suyển với bầy con đông. Giỗ năm ngoái Chín líu ríu đưa cậu em năm chục ngàn, sau nghe mợ bĩu môi, thời buổi tiền mất giá chỉ nhiêu đó có mua được gì, không thấm tháp vô đâu. Ngoài chợ người ta đi đám cưới nhà hàng tệ lắm cũng phải ba trăm rồi.

Đám tiệc hiển nhiên là không nói tới, dân xóm Chiếc thăm bệnh, cúng chùa cũng bằng tiền, chẳng cần bày vẽ bỏ bao thơ. Lì xì Tết trẻ con so đo ngay lộc người này nhiều hơn người trước. Dúi cho Chín ít tiền, bà mẹ biết không có nghĩa là đứa em gái mình không tổn thương. Bồn chồn rờ nắn cái túi áo bà ba mỏng dính, Chín nói giỗ năm sau có khi em không về.

Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh, Chín tránh làm sao khỏi xây xước. Vài nhà trong xóm còn vay nợ để đi đám được rỡ ràng mày mặt, cũng giống có quãng vay mượn mua dàn karaoke hoành tráng hơn nhà bên. Như có những cơn sóng thực dụng vô hình cứ vỗ mãi vào bờ xóm Chiếc, làm long lở cái gọi là tình nghĩa...

Con sông chảy xiết qua xóm Chiếc mang theo gì trong lòng nó, chỉ nó biết.

(Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, 2019)

Câu 1 (0,75 điểm). Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản trên.

Câu 2 (0,75 điểm). Liệt kê những việc mà "hồi xưa", Dì Chín đã chuẩn bị cho ngày giỗ ông ngoại?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp từ trong câu văn sau:
“Như Chín, làm sao tính được công đi bắt ốc vớt bèo nuôi vịt từ mấy tháng trước, công xa xót ngó bầy vịt dính dịch rù rũ chết dần, công dầm mình dưới mương móc măng, móc con cá lóc...”

Câu 4 (1,5 điểm). Theo anh/chị, vấn đề được tác giả đặt ra trong văn bản có còn phù hợp với đời sống xã hội ngày nay không? Hãy lý giải vì sao.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm).
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:

“Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh, Chín tránh làm sao khỏi xây xước. Vài nhà trong xóm còn vay nợ để đi đám được rỡ ràng mày mặt, cũng giống có quãng vay mượn mua dàn karaoke hoành tráng hơn nhà bên. Như có những cơn sóng thực dụng vô hình cứ vỗ mãi vào bờ xóm Chiếc, làm long lở cái gọi là tình nghĩa...

Con sông chảy xiết qua xóm Chiếc mang theo gì trong lòng nó, chỉ nó biết.”

Câu 2 (4,0 điểm).
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Ý nghĩa của việc nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay.

--------- HẾT ---------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh: ................................................................ Số báo danh: ........................

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ GIỮA KỲ 1

MÔN: NGỮ VĂN

Hướng dẫn chấm chính thức

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 90 phút

A. HƯỚNG DẪN CHUNG

- Giám khảo cần nắm vững nội dung hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh; tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc, linh hoạt khuyến khích các bài viết sáng tạo, có cảm xúc và giàu chất văn.
- Đối với phần Đọc hiểu và câu hỏi mở: Chấp nhận những cách diễn đạt tương đương hoặc các cách lý giải khác nhau nếu hợp lý, thuyết phục và không đi ngược lại các giá trị đạo đức, pháp luật.
- Đối với phần Viết: Đánh giá cao các bài làm có kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc sảo, dẫn chứng xác thực, tư duy độc lập và có cảm xúc chân thành.
- Điểm toàn bài tính theo thang điểm 10,0; làm tròn đến 0,25 điểm.

B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

1

Xác định ngôi kể của người kể chuyện:
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, lời trần thuật kết hợp linh hoạt với điểm nhìn của nhân vật bà mẹ).
(Thí sinh chỉ cần trả lời "Ngôi thứ ba" vẫn cho điểm tối đa).

0,75

2

Những việc dì Chín chuẩn bị cho ngày giỗ ngoại "hồi xưa":
- Mua vịt về nuôi trước ngày giỗ để luộc cúng; nếu vịt chết thì đi câu cá lóc, tìm măng tre đầu mùa mang về cúng.
(Thí sinh nêu được từ 1 - 2 việc làm cụ thể được 0,75 điểm).

0,75

3

Biện pháp tu từ trong câu văn “Như Chín, làm sao tính được công đi bắt ốc vớt bèo nuôi vịt từ mấy tháng trước, công xa xót ngó bầy vịt dính dịch rù rũ chết dần, công dầm mình dưới mương móc măng, móc con cá lóc...”:
- Chỉ ra biện pháp tu từ: Điệp từ "công" (hoặc kết hợp phép liệt kê các nỗi vất vả, nhọc nhằn của dì Chín).
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh những công sức, sự tận tụy, nhọc nhằn và chu tất của dì Chín dành cho ngày giỗ ngoại suốt mấy tháng trời.
+ Khẳng định giá trị thiêng liêng của tấm lòng thơm thảo, tình nghĩa gia đình là vô giá, không tiền tài hay của cải vật chất nào đong đếm được; thể hiện niềm cảm thông, trân trọng sâu sắc của tác giả.

1,0

0,5



0,5

4

Bày tỏ quan điểm về tính phù hợp của vấn đề đối với đời sống xã hội ngày nay:
- Khẳng định: Vấn đề tác giả đặt ra vẫn hoàn toàn phù hợp và có tính thời sự sâu sắc trong đời sống xã hội hiện nay.
- Lý giải (Gợi ý):
+ Xã hội hiện đại với kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng, con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy kim tiền, vật chất và các toan tính thực dụng.
+ Các mối quan hệ thiêng liêng (gia đình, bè bạn, họ hàng, làng xóm) nhiều lúc bị đong đếm bằng giá trị vật chất, tiền bạc ("mệnh giá của tờ giấy lạnh"), làm vơi cạn sự chân thành, ấm áp giữa người với người.
+ Lời cảnh báo của tác giả nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng những giá trị tinh thần, gìn giữ đạo lý, nâng niu tấm lòng chân chất hơn là sự hào nhoáng, giả tạo bên ngoài.
(Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu lập luận chặt chẽ, thuyết phục).

1,5

0,25

0,5

0,5

0,25

II

VIẾT

6,0

1

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

2,0

a. Bảo đảm yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo các cách: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành; dung lượng khoảng 200 chữ.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần cuối văn bản Đong tấm lòng.

0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để làm rõ nét đặc sắc của đoạn trích; bảo đảm các nội dung cơ bản sau:
* Về nội dung:
- Phản ánh hiện thực xót xa ở xóm Chiếc: con người đo lòng nhau bằng đồng tiền ("mệnh giá của tờ giấy lạnh"), thói sĩ diện, chạy theo hình thức ("vay nợ để đi đám", "mua dàn karaoke...").
- Thể hiện nỗi tổn thương, "xây xước" của những con người nghèo khó nhưng trọng nghĩa tình như dì Chín.
- Bộc lộ niềm trăn trở, xót xa và lời cảnh tỉnh của nhà văn trước sự rạn nứt, xói mòn tình nghĩa xóm giềng; hình tượng "con sông chảy xiết" gợi nỗi niềm tiếc nuối những giá trị mộc mạc, bình dị đang dần bị cuốn trôi.
* Về nghệ thuật:
- Ngôn từ giản dị, mộc mạc, đậm chất Nam Bộ mà giàu sức gợi cảm, thấm đẫm chất triết lý.
- Nghệ thuật xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng và ẩn dụ (tờ giấy lạnh, cơn sóng thực dụng, long lở tình nghĩa, con sông chảy xiết).
- Giọng điệu trầm buồn, xót xa, đầy chiêm nghiệm và trắc ẩn.

1,0


0,5



0,5

d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, giàu chất văn.

0,25

2

Nghị luận xã hội về ý nghĩa của việc nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay

4,0

a. Bảo đảm cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Ý nghĩa của việc nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay.

0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau:

3,0

* Giải thích vấn đề:
- "Ước mơ, hoài bão": những khát vọng, mục tiêu, điều tốt đẹp mà con người mong muốn hướng tới và đạt được trong tương lai.
- "Nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão": quá trình gìn giữ, bồi đắp niềm tin và nỗ lực hành động bền bỉ để hiện thực hóa khát vọng đó mỗi ngày.

0,5

* Ý nghĩa của việc nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão đối với tuổi trẻ:
- Là ngọn hải đăng soi đường: giúp người trẻ xác định phương hướng rõ ràng, không bị chông chênh, mất phương hướng trước những cám dỗ và thử thách của cuộc sống hiện đại.
- Là nguồn động lực tinh thần to lớn: tiếp thêm sức mạnh, ý chí và nghị lực để người trẻ kiên cường vượt qua khó khăn, thất bại, dám bước ra khỏi vùng an toàn.
- Thúc đẩy hoàn thiện bản thân: thôi thúc người trẻ không ngừng học hỏi, rèn luyện kỹ năng, trau dồi tri thức và đạo đức để vươn tới tầm vóc của ước mơ.
- Đóng góp cho cộng đồng và xã hội: ước mơ của thế hệ trẻ khi kết nối lại sẽ tạo nên động lực đổi mới, cống hiến sức trẻ xây dựng đất nước phát triển, văn minh.
(Học sinh kết hợp nêu dẫn chứng thực tế tiêu biểu, phù hợp để chứng minh).

1,5

* Mở rộng, phản đề:
- Phê phán lối sống không ước mơ, sống thụ động, thờ ơ, an phận hoặc những người chỉ ôm ấp ảo tưởng viển vông, thực dụng, vị kỷ mà không chịu hành động.
- Cần phân biệt giữa ước mơ chân chính với tham vọng mù quáng.

0,5

* Bài học nhận thức và hành động:
- Nhận thức: Tuổi trẻ là giai đoạn quý giá nhất để kiến tạo ước mơ và khẳng định giá trị bản thân.
- Hành động: Cần xây dựng kế hoạch cụ thể, kiên trì học tập và rèn luyện từ những việc nhỏ nhất; dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước tương lai của chính mình.

0,5

d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có góc nhìn riêng thuyết phục; văn phong truyền cảm, giàu hình ảnh.

0,25

TỔNG ĐIỂM

10,0

Lưu ý khi chấm:
- Giám khảo cần trân trọng những bài viết có cảm xúc chân thành, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực và diễn đạt giàu chất văn.
- Ở phần Viết: Chỉ cho điểm tối đa khi bài làm bảo đảm trọn vẹn cả yêu cầu về nội dung và hình thức.

Xem tất cả