5 đề kiểm tra giữa học kì I Ngữ văn 7 – Trường THCS Lục Ngạn 2

Ngữ vănLớp 7KChia sẻ bởi k l am (lamk) 0 lượt sử dụng đề

UBND XÃ LỤC NGẠN

TRƯỜNG THCS LỤC NGẠN 2

Đề tham khảo

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ SỐ 1

Môn: Ngữ văn – Lớp 7

Năm học: 2026 – 2027

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc bài thơ sau:

Chiều buông trên mái rạ
Khói bếp quyện bờ tre
Con trâu về chậm rãi
Kéo cả bóng hoàng hôn

Sông quê nước trong veo
In nghiêng hàng cau đứng
Tiếng ai hò chở nắng
Vọng qua mấy nhịp cầu

Đồng xa thơm mùi lúa
Cánh cò trắng bay ngang
Gió đưa câu hát cũ
Về bên bờ ao làng

Bàn tay mẹ thoăn thoắt
Nhóm lửa đỏ chiều nay
Khói lên trời xanh ngắt
Quê hương – khói bếp bay

(Bài thơ "Chiều quê" – Ngữ liệu tự biên soạn)

Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những hình ảnh, chi tiết khắc hoạ bức tranh làng quê trong khổ thơ thứ nhất và khổ thơ thứ hai.

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ:

Con trâu về chậm rãi
Kéo cả bóng hoàng hôn

Câu 4 (1,5 điểm). Từ hình ảnh người mẹ trong khổ thơ cuối, em hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) nêu cảm nhận của em về tình cảm gia đình và những việc em cần làm để thể hiện tình cảm ấy.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu quê hương đối với mỗi người.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn ghi lại cảm xúc của em về bài thơ Chiều quê ở phần Đọc hiểu.

--------- HẾT ---------

UBND XÃ LỤC NGẠN

TRƯỜNG THCS LỤC NGẠN 2

Đề tham khảo

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ SỐ 2

Môn: Ngữ văn – Lớp 7

Năm học: 2026 – 2027

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc truyện ngắn sau:

Ngoại trồng cây ổi ấy từ khi tôi còn chưa ra đời. Thân cây nghiêng nghiêng về phía giếng, rễ nổi lên trên mặt đất như những sợi gân trên mu bàn tay ngoại. Chiều nào đi học về, tôi cũng chạy ra vườn, ngửa cổ đếm những quả ổi non nấp sau kẽ lá. Ngoại ngồi bên chõng tre, tay bóc lạc, miệng nhắc: "Đừng hái vội, ổi còn chua. Chín thì chim ăn, cháu ăn, ai ăn trước cũng được, miễn đừng bỏ phí."

Mùa ổi chín năm ấy, ngoại ốm. Cơn sốt kéo dài mấy ngày, bà nằm trên chiếc giường cũ, mắt vẫn hướng ra cửa sổ, nơi tán ổi xanh đung đưa trong nắng. Tôi học lớp Năm, chưa biết nấu gì ngoài nồi cơm sống. Tôi bắc chõ nước, hái mấy quả ổi chín mềm nhất, gọt vỏ, thái miếng, bưng vào đặt cạnh bà. Ngoại cười, giọng yếu ớt: "Ổi nhà mình ngọt nhất, vì có công cháu tưới."

Hôm ngoại khỏi ốm, trời trở gió. Ngoại bảo tôi ra vườn, chỉ vào chùm ổi còn sót lại trên cành cao: "Cháu trèo lên hái, để dành phần cho lũ trẻ đầu xóm." Tôi ngần ngại, vì cành ấy cao, lại sát bờ rào. Ngoại nhìn tôi, chậm rãi: "Của mình không phải chỉ để mình ăn. Cho đi thì cây lại ra quả mới."

Tôi trèo lên. Gió thổi, lá ổi xào xạc quanh tai. Tôi hái được mấy quả, chia cho đứa trẻ nào cũng cười toe. Chiều ấy, ngoại ngồi trước hiên, nhìn tôi rồi nói một câu tôi nhớ mãi: "Cháu lớn rồi đấy."

Giờ ngoại đã đi xa. Cây ổi vẫn đứng đó, già thêm mấy tuổi, còn tôi cũng lớn thêm mấy tuổi. Mỗi lần về quê, tôi lại ra vườn, ngửa cổ nhìn lên tán lá xanh rì và nhớ giọng ngoại: "Đừng bỏ phí."

(Truyện ngắn "Cây ổi của ngoại" – Ngữ liệu tự biên soạn)

Câu 1 (0,5 điểm). Truyện trên được kể theo ngôi kể nào? Ai là nhân vật chính?

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những lời nói của ngoại với nhân vật "tôi" trong truyện. Qua những lời nói ấy, em thấy ngoại là người như thế nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Thân cây nghiêng nghiêng về phía giếng, rễ nổi lên trên mặt đất như những sợi gân trên mu bàn tay ngoại."

Câu 4 (1,5 điểm). Em có đồng tình với lời ngoại dặn: "Chín thì chim ăn, cháu ăn, ai ăn trước cũng được, miễn đừng bỏ phí" không? Vì sao? Từ đó, em rút ra bài học gì cho bản thân?

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nêu cảm nhận của em về nhân vật ngoại trong truyện ngắn trên.

--------- HẾT ---------

UBND XÃ LỤC NGẠN

TRƯỜNG THCS LỤC NGẠN 2

Đề tham khảo

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ SỐ 3

Môn: Ngữ văn – Lớp 7

Năm học: 2026 – 2027

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc bài thơ sau:

Gió về trên ngõ
Áo mẹ bay bay
Sợi chỉ đường kim
Đi qua năm tháng

Mưa rơi lặng lẽ
Trên mái rạ xưa
Mẹ ngồi khâu áo
Bóng mẹ in dài

Bàn tay mẹ gầy
Khâu từng mũi chỉ
Vá cả mùa đông
Vá cả tuổi thơ

Con lớn mỗi ngày
Áo dài thêm chút
Chỉ vẫn chạy đều
Trong tay mẹ ấm

(Bài thơ "Mẹ khâu áo" – Ngữ liệu tự biên soạn)

Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 (1,0 điểm). Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả mẹ trong bài thơ. Qua những hình ảnh ấy, em hình dung như thế nào về người mẹ?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:

Vá cả mùa đông
Vá cả tuổi thơ

Câu 4 (1,5 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của em về giá trị của những việc làm nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống, được gợi ra từ hình ảnh mẹ khâu áo trong bài thơ.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự hi sinh thầm lặng của những người thân trong gia đình.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn ghi lại cảm xúc của em về bài thơ Mẹ khâu áo ở phần Đọc hiểu.

--------- HẾT ---------

UBND XÃ LỤC NGẠN

TRƯỜNG THCS LỤC NGẠN 2

Đề tham khảo

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ SỐ 4

Môn: Ngữ văn – Lớp 7

Năm học: 2026 – 2027

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Thu về khi những cơn gió đầu mùa mang theo hơi lạnh len lỏi qua khe cửa. Buổi sáng, sương phủ trắng mái rạ, ngọn cỏ ngoài vườn ướt đẫm. Tôi thích nhất là được theo bà ra chợ sớm, nơi những gánh cốm xanh đã ngồi kín một góc chợ.

Cốm được gói trong lá sen, buộc bằng sợi rơm vàng óng. Bà bảo, cốm phải ăn bằng đầu ngón tay, nhón từng chút một, để hạt cốm tan dần trên lưỡi, ngọt cái ngọt của lúa non, thơm cái thơm của lá sen, của nắng, của gió. Hồi ấy, tôi chẳng hiểu gì, chỉ biết cốm bùi và dẻo, ăn mãi không chán.

Những chiều thu, bà thường ngồi trước hiên, gói từng gói cốm nhỏ gửi cho các con ở xa. Bà bảo: "Cốm không để được lâu, phải gửi sớm, kẻo hết mùa." Câu nói ấy theo tôi đến tận bây giờ. Mùa nào cũng có cái món ngon riêng, nhưng chỉ cần chậm một chút là lỡ.

Bây giờ, mỗi độ thu sang, tôi lại ra chợ, mua một gói cốm nhỏ, ngồi nhón từng hạt và nhớ bà. Hương cốm không chỉ là mùi của lúa non, mà là mùi của quê, của tuổi thơ, của những người đã đi qua đời tôi và để lại một chút ngọt lành.

(Tản văn "Hương cốm mùa thu" – Ngữ liệu tự biên soạn)

Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những chi tiết miêu tả cốm và cách bà thưởng thức, gói cốm trong văn bản.

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn: "Hương cốm không chỉ là mùi của lúa non, mà là mùi của quê, của tuổi thơ, của những người đã đi qua đời tôi và để lại một chút ngọt lành."

Câu 4 (1,5 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) nêu cảm nhận của em về tình cảm của tác giả đối với quê hương, tuổi thơ được thể hiện trong văn bản.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của những món ăn truyền thống trong đời sống mỗi người.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn ghi lại cảm xúc của em về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ mà em yêu thích.

--------- HẾT ---------

UBND XÃ LỤC NGẠN

TRƯỜNG THCS LỤC NGẠN 2

Đề tham khảo

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ SỐ 5

Môn: Ngữ văn – Lớp 7

Năm học: 2026 – 2027

Thời gian làm bài: 90 phút

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc truyện ngắn sau:

Đầu năm học lớp Bảy, lớp tôi có thêm một bạn mới. Bạn tên Thảo, người gầy, da ngăm, lúc nào cũng mặc chiếc áo sơ mi đã bạc màu. Cô giáo xếp Thảo ngồi cạnh tôi.

Mấy hôm đầu, cả lớp còn lạ, chưa ai nói gì. Rồi một buổi, Huy quay xuống, cười lớn: "Áo gì mà bạc phếch thế, chắc giặt cả trăm lần rồi!" Cả tổ cười rộ. Thảo cúi gằm, tai đỏ ửng. Tôi cũng cười, dù trong bụng thấy hơi áy náy.

Hôm sau, tôi mới biết Thảo ở với bà ngoại, bố mẹ đi làm xa. Bạn đi học bằng chiếc xe đạp cũ, bánh trước hơi xẹp. Trên đường về, tôi thấy Thảo dắt xe vào một tiệm sửa nhỏ, đứng chờ rất lâu rồi móc túi lấy mấy đồng bạc lẻ. Hôm sau nữa, tôi thấy hộp bút của Thảo chỉ có một cây bút chì đã mòn và một mẩu tẩy nhỏ.

Chiều thứ Sáu, lớp tôi có tiết làm báo tường. Thảo vẽ rất đẹp. Bạn vẽ một bông hoa dại nhỏ xíu ở góc tờ giấy, cánh mỏng, mọc lên từ một vết nứt trên tường. Cô giáo khen, Thảo chỉ cười, mắt sáng lên. Tôi nhìn bông hoa ấy rồi nhìn Thảo, tự nhiên thấy xấu hổ.

Giờ ra về, tôi chạy theo Thảo, đưa bạn một nửa gói bánh mẹ mới mua và nói: "Lúc trước, mình cười bạn, mình xin lỗi." Thảo ngẩn ra một lúc, rồi cười, đẩy gói bánh về phía tôi: "Không sao đâu. Cậu ăn đi, mình còn về tưới rau giúp ngoại."

Từ hôm ấy, tôi hiểu ra một điều: có những bông hoa đẹp nhất lại mọc lên từ những nơi chẳng ai để ý.

(Truyện ngắn "Bông hoa dại cuối lớp" – Ngữ liệu tự biên soạn)

Câu 1 (0,5 điểm). Truyện trên được kể theo ngôi kể nào? Nhân vật chính trong truyện là ai?

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những chi tiết cho thấy hoàn cảnh khó khăn của Thảo.

Câu 3 (1,0 điểm). Vì sao nhân vật "tôi" thấy xấu hổ khi nhìn bông hoa dại Thảo vẽ? Hình ảnh bông hoa dại ở cuối truyện có ý nghĩa gì?

Câu 4 (1,5 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của em về cách ứng xử với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, được gợi ra từ câu chuyện trên.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nêu cảm nhận của em về nhân vật Thảo trong truyện ngắn trên.

--------- HẾT ---------

Xem tất cả