ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I
Môn: Ngữ văn – Lớp 10
Năm học 2026 – 2027
Thời gian làm bài: 90 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
...
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch nghĩa:
Xuân qua, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa nở
Việc đời ruổi qua trước mắt
Tuổi già theo lên trên đầu
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Trước sân đêm qua một cành mai.
(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư, bản phiên âm chép trong Thiền uyển tập anh; lời dịch nghĩa của người biên soạn đề)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản. Văn bản được sáng tác bằng loại chữ nào?
Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng trong bốn câu thơ đầu và nêu ý nghĩa biểu đạt của chúng. Từ đó, giải thích ngắn gọn vì sao bút pháp ước lệ, tượng trưng lại trở thành một đặc trưng của văn học trung đại.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của phép đối trong hai câu thơ:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Từ hai câu thơ trên, hãy chỉ ra một biểu hiện của sự bó buộc bởi niêm luật trong thơ trung đại.
Câu 4 (1,5 điểm). Trả lời trong khoảng 7 – 10 dòng, thực hiện hai yêu cầu sau:
a) Từ hình ảnh "một cành mai" ở hai câu thơ cuối, anh/chị rút ra được thông điệp gì về cách con người đối diện với những đổi thay, mất mát, tàn lụi của cuộc sống?
b) Từ cách hiểu văn bản trên, hãy nêu ngắn gọn cách đọc một tác phẩm văn học trung đại: khi tiếp cận cần chú ý những "lớp" nào để hiểu đúng tác phẩm?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của niềm lạc quan trước những đổi thay, mất mát của cuộc sống, được gợi ra từ hình ảnh "một cành mai" trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, làm rõ những biểu hiện của tư duy nghệ thuật trung đại trong tác phẩm.
Trong quá trình phân tích, cần vận dụng hiểu biết về tính phi ngã của cái tôi trữ tình, bút pháp ước lệ tượng trưng, sự bó buộc của niêm luật thơ Đường luật và cảm hứng yêu nước – mạch nguồn lớn của văn học trung đại Việt Nam.
--------- HẾT ---------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi kiểm tra không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ................................................ Số báo danh: ........................
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I
Môn: Ngữ văn – Lớp 10
Năm học 2026 – 2027
ĐÁP ÁN GỢI Ý VÀ HƯỚNG DẪN TỰ ĐỐI CHIẾU
A. CÁCH DÙNG TÀI LIỆU NÀY
- Đây không phải bài chấm điểm. Tài liệu này để em tự làm đề rồi tự sửa, tự phát hiện chỗ hổng của mình.
- Trình tự làm: đọc lại mục tài liệu ghi ở cột "Tra lại tài liệu" của câu sắp làm → tự viết câu trả lời ra giấy → chỉ sau khi viết xong mới mở đáp án gợi ý để đối chiếu → tự ghi Đạt hoặc Chưa đạt vào cột cuối.
- Không cần học thuộc đáp án. Cần nắm ý và cách lập luận; diễn đạt khác mà lập luận chắc thì vẫn là Đạt.
- Chỗ nào Chưa đạt thì quay lại đúng mục tài liệu tương ứng, đọc lại rồi viết lại câu đó một lần nữa.
- Với các câu mở (Câu 4 phần Đọc hiểu, hai câu phần Viết): Gợi ý dưới đây chỉ là một cách trả lời. Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.
B. ĐÁP ÁN GỢI Ý – PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Câu | Đáp án gợi ý | Tra lại tài liệu | Tự đánh giá |
|---|---|---|---|
1 | Thể thơ: thơ thất ngôn – mỗi câu bảy chữ, toàn bài sáu câu, là một bài kệ (thất ngôn cổ phong, không phải thất ngôn tứ tuyệt Đường luật vì bài có sáu câu). | Mục "Về hình thức: song hành hai thành phần văn học" – văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. | Đạt: nêu đúng cả thể thơ và loại chữ. |
2 | Hình ảnh ước lệ, tượng trưng: "xuân khứ" – "xuân đáo" (mùa xuân đi – đến, thời gian tuần hoàn); "bách hoa lạc" – "bách hoa khai" (trăm hoa rụng – trăm hoa nở); "lão tòng đầu thượng lai" (tuổi già leo lên trên đầu). | Mục "Bút pháp tượng trưng ước lệ là gì?" và mục "Về tư duy thẩm mĩ: tính chất sùng cổ". | Đạt: chỉ ra được ít nhất ba hình ảnh, nêu được nghĩa biểu đạt và giải thích được lí do. |
3 | Phép đối: "xuân khứ" đối "xuân đáo"; "bách hoa lạc" đối "bách hoa khai" – đối về từ loại (danh từ với danh từ, động từ với động từ), về nghĩa (đi với đến, rụng với nở), về thanh. | Mục "Bó buộc bởi niêm luật là gì?" – phần Niêm và Luật, Luật Đối, Vần và Nhịp. | Đạt: phân tích được phép đối và nêu được ít nhất một biểu hiện của niêm luật. |
4a | Gợi ý: mất mát, tàn lụi là quy luật không tránh được của đời người; nhưng "một cành mai" nở trong đêm qua cho thấy ngay trong cảnh tàn vẫn có sức sống mới, cái đẹp vẫn hiện hữu. Thông điệp: cần lạc quan, tin vào sự sống; bình thản đón nhận quy luật; sống trọn vẹn hiện tại, giữ tâm thế tự tại thay vì tuyệt vọng. | Mục "Tư duy Thiên nhân hợp nhất" và phần ví dụ về thiên nhiên là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người. | Đạt: nêu được thông điệp và có lí giải bám vào hình ảnh "cành mai". |
4b | Gợi ý: | Mục "Bí kíp đọc vị tác phẩm trung đại" – bốn bước: xác định thời điểm, bóc lớp vỏ ước lệ, áp dụng tư duy phi ngã, nhìn vào niêm luật. | Đạt: nêu được từ ba lớp trở lên, sắp xếp hợp lý. |
C. ĐÁP ÁN GỢI Ý – PHẦN II. VIẾT
Câu 1 – Đoạn văn khoảng 200 chữ về ý nghĩa của niềm lạc quan
Gợi ý dàn ý:
- Mở đoạn: nêu vấn đề – niềm lạc quan trước những đổi thay, mất mát của cuộc sống.
- Giải thích: lạc quan là thái độ tin vào mặt tốt, tin vào khả năng vượt qua khó khăn.
- Bàn luận: đổi thay, mất mát là quy luật tất yếu; lạc quan giúp con người bình thản đón nhận và tìm thấy sức sống mới trong nghịch cảnh (liên hệ "một cành mai" nở giữa lúc hoa rụng); lạc quan không phải phủ nhận đau buồn mà là dám đối diện và vượt lên.
- Phê phán: thái độ bi quan, buông xuôi, chạy trốn thực tại.
- Bài học, liên hệ: rèn tinh thần lạc quan, sống trọn vẹn hiện tại, trân trọng những gì đang có.
Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.
Tiêu chí tự đánh giá | Tốt | Khá | Cần làm lại |
|---|---|---|---|
Hình thức | Đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ, không xuống dòng chia đoạn | Đúng đoạn văn nhưng dài hoặc ngắn hơn khoảng 50 chữ | Viết thành nhiều đoạn hoặc quá ngắn |
Đúng vấn đề | Bám đúng niềm lạc quan trước đổi thay, mất mát | Có nhắc vấn đề nhưng lan sang chủ đề khác | Lạc đề |
Lập luận | Đủ các bước giải thích – bàn luận – phê phán – bài học, lí lẽ chặt | Thiếu một bước, lí lẽ còn chung chung | Chỉ kể chuyện hoặc nêu cảm xúc, không lập luận |
Dẫn chứng | Có dẫn chứng cụ thể, gắn với hình ảnh "cành mai" | Dẫn chứng chung chung | Không có dẫn chứng |
Diễn đạt, sáng tạo | Có cách nói riêng, hình ảnh, suy nghĩ sâu | Diễn đạt rõ nhưng còn khuôn mẫu | Dùng lại câu chữ mẫu, sai chính tả, sai ngữ pháp |
Câu 2 – Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài), làm rõ tư duy nghệ thuật trung đại
Gợi ý dàn ý:
- Mở bài: giới thiệu Phạm Ngũ Lão, bài thơ Tỏ lòng, và hướng phân tích – soi bài thơ qua bốn biểu hiện của tư duy nghệ thuật trung đại.
- Luận điểm 1 – Cái tôi phi ngã: hình tượng "hoành sóc" không phải cái tôi cá nhân lẻ loi mà là hiện thân của người tráng sĩ, của cả dân tộc và thời đại nhà Trần; "tam quân" là cái ta cộng đồng; nỗi thẹn vì chưa trả xong nợ công danh là ý chí chung của kẻ sĩ đương thời.
- Luận điểm 2 – Bút pháp ước lệ, tượng trưng: "hoành sóc" là tư thế hiên ngang, kì vĩ, mang tính khái quát; "kháp kỉ thu", "tì hổ", "khí thôn Ngưu" là những hình ảnh ước lệ, so sánh, phóng đại để khái quát hào khí thời đại chứ không tả thực cụ thể.
- Luận điểm 3 – Sự bó buộc của niêm luật: thể thất ngôn tứ tuyệt, niêm – luật bằng trắc chặt chẽ, vần bằng (thu – Ngưu – Hầu), nhịp 4/3; chính khuôn khổ nghiêm ngặt ấy tạo âm hưởng trang trọng, hào hùng, thể hiện bản lĩnh và tài năng nhà thơ.
- Luận điểm 4 – Cảm hứng yêu nước: lòng tự hào dân tộc, ý chí bảo vệ non sông, khát vọng lập công danh để xứng với thời đại.
- Kết bài: khẳng định vẻ đẹp của bài thơ và sức sống của tư duy nghệ thuật trung đại.
Chấp nhận cách diễn đạt khác nếu hợp lý, thuyết phục.
Tiêu chí tự đánh giá | Tốt | Khá | Cần làm lại |
|---|---|---|---|
Bố cục bài văn | Đủ ba phần, các phần gắn kết, chuyển ý tự nhiên | Đủ ba phần nhưng chuyển ý còn gượng | Thiếu mở hoặc kết, thân bài rời rạc |
Đúng vấn đề | Phân tích bài thơ để làm rõ bốn biểu hiện của tư duy nghệ thuật trung đại | Có phân tích bài thơ nhưng chỉ rõ được hai đến ba biểu hiện | Chỉ kể lại nội dung, cảm nhận chung chung |
Luận điểm 1 – phi ngã | Gắn hình tượng "hoành sóc", "tam quân", nỗi thẹn với cái ta cộng đồng, hào khí thời đại | Có nói tới cái chung nhưng chưa gắn với chi tiết thơ | Không nêu được tính phi ngã |
Luận điểm 2 – ước lệ, tượng trưng | Chỉ đúng các hình ảnh ước lệ, so sánh, phóng đại và giải thích tác dụng khái quát hoá | Chỉ ra hình ảnh nhưng chưa nói tác dụng | Nhầm sang phân tích tả thực |
Luận điểm 3 – niêm luật | Nêu đúng thể thơ, vần, nhịp, niêm – luật và hiệu quả nghệ thuật | Nêu được thể thơ, vần nhưng chưa nói hiệu quả | Không nhắc tới hình thức thể loại |
Luận điểm 4 – cảm hứng yêu nước | Gắn với mạch nguồn yêu nước của văn học trung đại, có lí lẽ và dẫn chứng | Nêu được nhưng còn mờ nhạt | Không có |
Dẫn chứng | Trích thơ chính xác, phân tích sát chữ nghĩa | Trích đúng nhưng phân tích sơ sài | Trích sai hoặc không trích |
Diễn đạt, sáng tạo | Có kiến giải riêng, so sánh, liên hệ hợp lý | Diễn đạt rõ ràng, ít điểm nhấn | Khuôn mẫu, lặp ý, sai chính tả, sai ngữ pháp |
D. SAU KHI TỰ SỬA, EM CẦN NẮM ĐƯỢC
- Văn học trung đại Việt Nam kéo dài mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX), gắn với chế độ phong kiến và chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng phương Đông (Nho, Phật, Đạo).
- Hai mạch cảm hứng lớn xuyên suốt: cảm hứng yêu nước (gắn với vận mệnh quốc gia) và cảm hứng nhân đạo (gắn với số phận con người, đậm nét từ thế kỉ XVIII – XIX).
- Hai thành phần song hành về hình thức: văn học chữ Hán (trang trọng, chính thống) và văn học chữ Nôm (gần gũi, thuần Việt, sinh ra truyện thơ Nôm, ngâm khúc).
- Ba đặc điểm cốt lõi của tư duy nghệ thuật: cái tôi phi ngã (hướng về cái chung, cái chuẩn mực), bút pháp ước lệ tượng trưng (dùng hình ảnh quen thuộc có tính quy ước để nói điều trừu tượng), sự bó buộc bởi niêm luật (niêm, luật bằng trắc, phép đối, vần, nhịp chặt chẽ).
- Niêm: các cặp câu 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7 có chữ thứ hai cùng thanh; luật: chữ ở vị trí 2, 4, 6 theo sơ đồ bằng – trắc cố định ("nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh").
- Tư duy sùng cổ: cái cũ, cái thuộc về thánh hiền mới là chuẩn mực của cái đẹp, nên văn học thời này kế thừa nhiều hơn phá cách.
- Tư duy "thiên nhân hợp nhất": thiên nhiên là tấm gương phản chiếu tâm hồn, tư tưởng con người, nên phân tích cảnh là phân tích người.
- Mâu thuẫn nhập thế – xuất thế và "nỗi ưu thời mẫn thế" của nhà nho; cuối thế kỉ XVIII – XIX có bước chuyển từ cái ta phi ngã sang cái tôi bản thể (Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du).
- Quy trình đọc một tác phẩm trung đại: xác định thời điểm – thể loại – loại chữ; bóc lớp vỏ ước lệ để tìm nghĩa biểu tượng; chú ý niêm luật để thấy sự nén cảm xúc; nâng cái tôi cá nhân thành tiếng nói thời đại và đặt tác phẩm vào hai mạch cảm hứng lớn.







